
Lầm tưởng số 1: Nỗ lực làm việc sẽ đánh bại trầm cảm.
Gần như cứ trong sáu người thì có một người bị ảnh hưởng bởi trầm cảm vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống, vì vậy nên những “giải pháp truyền miệng” và những sự thật nửa vời mà người ta còn hay gọi là “một nửa sự thật” về chứng bệnh tâm lý phổ biến này là rất nhiều. Ví như có nhiều người cho rằng: Cứ quăng mình vào công việc rồi tự nhiên sẽ cảm thấy tốt hơn thôi. Thật ra thì đối với trường hợp trầm buồn thông thường thì cách này thực sự có thể giúp ích, nhưng trầm cảm thì không nằm trong số đó. Làm việc quá sức rất có thể là một dấu hiệu của trầm cảm bệnh lý, nhất là ở nam giới.
Lầm tưởng số 2: Đây không phải là một căn bệnh thực sự.
Trầm cảm thực sự là một tình trạng bệnh lý nghiêm trọng – và là nguyên nhân hàng đầu gây nên các vấn đề khuyết tật ở người Mỹ trưởng thành. Tuy nhiên, nó vẫn thường bị lẫn lộn với cảm giác buồn bã thường gặp. Chứng bệnh này có nhiều bằng chứng sinh học từ các nghiên cứu về di truyền, hóc môn trong cơ thể, các thụ thể của tế bào thần kinh và chức năng não bộ. Các đường dẫn truyền thần kinh ở những vùng não có chức năng điều chỉnh tâm trạng của một người cho thấy sự hoạt động bất thường khi họ mắc bệnh trầm cảm.
Lầm tưởng số 3: Trầm cảm thật ra chỉ là sự thương hại/tiếc nuối/không hài lòng về bản thân.
Văn hóa của chúng ta ngưỡng mộ và đề cao ý chí kiên cường và sự dẻo dai tinh thần, song nhanh chóng gán nhãn cho bất cứ ai bị chùn bước là một “người đánh cá” – ý nói người luôn ca thán. Nhưng những người mắc trầm cảm bệnh lý không đơn giản chỉ là “lười biếng” hay thấy tiếc thương cho bản thân. Cũng như họ không thể chỉ cần dùng “ý chí” để làm cho trầm cảm biến mất. Chúng ta cần nhìn nhận rằng trầm cảm là một tình trạng bệnh – một vấn đề sức khỏe liên quan đến những thay đổi xảy ra trong não bộ. Và cũng như các loại bệnh khác, nó thường sẽ được cải thiện khi đi đôi với việc điều trị phù hợp.
Lầm tưởng số 4: Đi tìm sự hỗ trợ đồng nghĩa với việc uống thuốc suốt đời.
Bất chấp những luồng ý kiến khác nhau về cuốn sách nổi tiếng “Prozac Nation”, thuốc chỉ là một trong nhiều công cụ có thể sử dụng để cải thiện chứng trầm cảm. Việc tìm sự trợ giúp chuyên nghiệp không nhất thiết đồng nghĩa với việc bác sĩ/nhà trị liệu cho thuốc uống, dù thuốc thực sự có thể rất hữu ích với một số dạng trầm cảm nặng. Bên cạnh đó, các nghiên cứu khoa học đã cho thấy liệu pháp “trò chuyện/đối thoại” cũng mang lại hiệu quả tương đương như việc dùng thuốc để điều trị trầm cảm ở mức độ nhẹ đến trung bình. Song, ngay cả khi bạn có sử dụng thuốc chống trầm cảm thì nó cũng sẽ không kéo dài suốt đời mà bạn sẽ được trợ giúp để xác định thời điểm ngưng thuốc thích hợp.
Lầm tưởng số 5: Người mắc trầm cảm khóc rất nhiều.
Thật ra thì không phải mọi trường hợp đều như vậy. Có những người sẽ không khóc hay thậm chí không có những kiểu hành xử cho thấy sự buồn bã hay khổ sở. Thay vào đó, cảm xúc của họ là “trống rỗng” và họ có thể cảm thấy mình vô giá trị hoặc vô dụng. Song ngay cả khi không có các triệu chứng trầm trọng thể hiện ra bên ngoài, nếu không được điều trị thích hợp thì trầm cảm sẽ gây nhiều cản trở cho một cuộc sống trọn vẹn, và gây ảnh hưởng tiêu cực lâu dài cho gia đình.
Lầm tưởng số 6: Trầm cảm là một phần của tiến trình lão hóa.
Hầu hết mọi người có thể tìm ra cách xoay sở trước những thử thách của tuổi già mà không trải qua trầm cảm. Nhưng một khi nó có xảy ra thì rất có thể bị lướt qua mà không được nhận ra. Người lớn tuổi có thể che giấu nỗi buồn của mình hoặc có các triệu chứng mơ hồ khác, như: không còn cảm giác ngon miệng, những cơn đau nhức trở nên tệ hơn và nếp ngủ bị thay đổi. Ngoài ra, các vấn đề sức khỏe có thể kích hoạt bệnh trầm cảm, và ngược lại, trầm cảm có thể làm chậm quá trình hồi phục ở người cao niên, như sau cơn đau tim hoặc sau một ca phẫu thuật.
Lầm tưởng số 7: Nói chuyện sẽ làm cho mọi thứ trở nên tồi tệ hơn.
Từng có một thời người ta thường khuyên không nên “chăm chú” vào các vấn đề khó khăn bằng cách nói về chúng. Thế nhưng ngày nay, đã có những bằng chứng đáng tin cậy cho thấy rằng việc cùng bàn luận với một chuyên gia sẽ giúp cho mọi thứ tốt lên rất nhiều. Các phương thức khác nhau của tâm lý trị liệu sẽ mang lại giá trị cho việc điều trị trầm cảm bằng cách tìm ra và xử lý những mẫu hình tư duy tiêu cực, những cảm xúc từ vô thức hay những trở ngại trong các mối quan hệ. Bước đầu tiên là dấn thân, tham gia vào cuộc đối thoại với một chuyên gia về sức khỏe tâm thần.
Lầm tưởng số 8: Sự buồn bã, bất mãn ở tuổi thanh thiếu niên là hiển nhiên.
Mặc dù nhiều thanh thiếu niên có tâm trạng dễ thay đổi, hay tranh cãi và thường bị kích thích, thu hút bởi những “mặt tối”, thì sự buồn bã u sầu hay việc cáu kỉnh, khó chịu mà kéo dài dai dẳng sẽ không là sự việc bình thường đối với độ tuổi này. Khi tình trạng trầm uất kéo dài hơn hai tuần thì đó có thể là một dấu hiệu của trầm cảm (cứ khoảng 11 người thì có 1 người mắc phải). Một số dấu hiệu khác cho thấy có khả năng rằng một thiếu niên đang cần được trợ giúp gồm có: buồn bã liên miên hoặc dễ cáu giận ngay cả với bạn bè, không còn hứng thú với các hoạt động từng yêu thích hoặc đột ngột sa sút điểm học tập.
Lầm tưởng số 9: Trầm cảm rất khó để điều trị.
Trên thực tế, hầu hết tất cả những ai có hành động thiết thực để cải thiện chứng trầm cảm của mình thì sẽ đều trở nên tốt hơn. Bên cạnh đó, theo một nghiên cứu của Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ (NIMH), 70% người mắc trầm cảm sẽ hết triệu chứng thông qua các loại thuốc chuyên dụng – mặc dù không phải lúc nào cũng là liều thuốc được đề xuất vào lần đầu tiên. Các nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp điều trị tốt nhất đối với trầm cảm thường là sự kết hợp giữa thuốc và liệu pháp trò chuyện trong Tâm lý trị liệu.
Sự thật số 1: Khó phát hiện trầm cảm ở nam giới.
Đối với trường hợp là giới nam thì dù là người thân cận hay thậm chí cả bác sĩ của anh ta cũng có thể không nhận ra được sự hiện diện của bệnh trầm cảm ở anh ấy. Đó là vì cánh đàn ông thường ít nói về cảm xúc của họ hơn so với phụ nữ, và một số người nam khi mắc trầm cảm thì họ không tỏ ra buồn bã hay thất vọng. Thay vào đó, họ có thể cáu kỉnh, tức giận hoặc hay bồn chồn. Thậm chí họ còn có thể có hành vi đả kích người khác. Một số người khác thì tìm cách đối phó với trầm cảm bằng những hành vi liều lĩnh, hay rượu bia, ma túy.
Sự thật số 2: Bất cứ ai cũng có thể mắc trầm cảm.
Nhà thơ hay vận động viên, nhút nhát hay cởi mở, bất cứ ai thuộc bất kỳ sắc tộc nào cũng đều có thể mắc trầm cảm. Chứng bệnh này phổ biến hơn ở giới nữ, gấp đôi so với nam giới, nhưng dường như những người nữ thì có xu hướng đi tìm đến sự hỗ trợ chuyên nghiệp hơn là nam giới. Thường có thể nhận biết những dấu hiệu khởi phát của trầm cảm ở giai đoạn cuối vị thành niên hoặc độ tuổi 20, song một “giai đoạn trầm cảm” có thể tiến triển ở bất kỳ độ tuổi nào. Những trải nghiệm khắc nghiệt đôi khi có thể “châm ngòi” cho trầm cảm phát triển ở những người trong nhóm nguy cơ. Hoặc cũng có khi nó cứ thế phát triển từ những chuỗi nỗi buồn dai dẳng ở bất cứ ai.
Sự thật số 3: Trầm cảm có thể ngấm ngầm xâm lấn theo từng ngày.
Trầm cảm có thể chậm rãi “leo thang” từng chút một, điều này khiến việc xác định nó khó hơn rất nhiều so với một căn bệnh quen thuộc khác khi nó bất ngờ xảy đến. Một ngày dài tồi tệ dần trở thành lối mòn tẻ nhạt mà bạn bị kẹt lại và bắt đầu bỏ mặc công việc, trường học hay các sự kiện xã hội. Có một dạng trầm cảm được gọi là dysthymia: mức độ nhẹ và kéo dài trong nhiều năm như một bệnh mãn tính – một sự bất ổn âm thầm làm suy giảm sự nghiệp và chất lượng các mối quan hệ của bạn. Mặt khác, trầm cảm có thể trở thành một tình trạng bệnh nghiêm trọng và vô hiệu hóa các chức năng xã hội của bạn. Với việc điều trị phù hợp, nhiều người mắc trầm cảm sẽ thấy nhẹ nhõm hơn đáng kể sau 4 đến 6 tuần.
Sự thật số 4: Lịch sử gia đình không phải là số mệnh.
Nếu trầm cảm đã từng xuất hiện trong cây phả hệ của gia đình bạn, thì có vẻ là bạn có khả năng cũng mắc phải nó. Nhưng rất nhiều khả năng là không. Những người có tiền sử gia đình từng mắc bệnh sẽ có thể theo dõi và phát hiện sớm các triệu chứng của trầm cảm cũng như kịp thời có hành động can thiệp thích hợp – đó có thể là áp dụng phương pháp giảm căng thẳng, tăng cường thể dục, hay tham gia vào dịch vụ tham vấn hoặc cách thức trị liệu chuyên nghiệp khác.
Sự thật số 5: Trầm cảm có nhiều điểm tương đồng với bệnh Sa sút trí tuệ (Dementia).
Ở người cao niên, trầm cảm có thể là nguyên nhân gốc rễ của các vấn đề về trí nhớ, lẫn lộn, và ảo tưởng – trong một số trường hợp. Người chăm sóc của họ và nhiều bác sĩ có thể nhầm tưởng những vấn đề này là dấu hiệu của bệnh sa sút trí tuệ, hoặc chứng suy giảm trí nhớ do cao tuổi. Việc điều trị phù hợp sẽ gỡ bỏ được rất nhiều gánh nặng cho phần lớn người già bị trầm cảm. Trong đó, Tâm lý trị liệu là một phương pháp hiệu quả để điều trị trầm cảm cho người cao tuổi – người có thể phải đương đầu với sự mất mát, bệnh tật hay những biến chuyển khác trong cuộc sống.
Sự thật số 6: Những suy nghĩ tích cực thực sự có giúp ích.
Kiểu lời khuyên quen thuộc từ rất lâu với ý “làm bật lên tính tích cực” đến nay đã được phát triển thành hẳn một phương pháp thực hành mang lại hiệu quả cho những ca trầm cảm. Cách tiếp cận đó có tên là Liệu pháp Nhận thức – Hành vi (CBT). Thông qua liệu pháp này, người khách hàng dần hình thành được lối suy nghĩ và hành xử khác đi. Những hành vi và tiếng nói bên trong theo hướng tiêu cực, méo mó sẽ được xác định và thay thế bởi những suy nghĩ hợp lý, cân bằng hơn về bản thân và thế giới xung quanh. CBT có thể được kết hợp song song với việc điều trị bằng thuốc hoặc không, và phù hợp với khá nhiều đối tượng.
Sự thật số 7: Thể dục thể thao là một phương thuốc tốt.
Những nghiên cứu chất lượng ngày nay đã cho thấy việc tập thể dục đều đặn với cường độ vừa phải, phù hợp sẽ có thể cải thiện được các triệu chứng của trầm cảm và mang lại hiệu quả tương đương với một số loại thuốc chuyên dụng cho người bị trầm cảm mức độ nhẹ đến trung bình. Từ đó, áp dụng việc tập thể dục thường xuyên với một nhóm bạn hoặc tập cùng một người bạn tốt sẽ gia tăng nguồn lực hỗ trợ xã hội, một yếu tố tăng cường khác giúp thúc đẩy tâm trạng đi lên.
Sự thật số 8: Nhiều trường hợp chúng ta có thể “tưởng” là trầm cảm.
Có những biến cố trong cuộc sống chắc chắn sẽ gây ra nỗi buồn và thất vọng, nhưng chúng không trở thành trầm cảm lâm sàng. Sự đau buồn là hệ quả bình thường và khỏe mạnh khi ta phải trải qua những mất mát như chia ly, ly hôn, mất việc hoặc nhận chẩn đoán về một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Một manh mối quan trọng cho thấy một người cần trị liệu là: nỗi buồn dai dẳng ngày này qua ngày khác và chiếm hầu hết thời gian trong ngày. Nếu một người đang tự vượt qua thời điểm khó khăn của mình theo một diễn tiến hợp lý, thì nỗi buồn của họ thường có thể bị ngắt quãng và xen vào đó là niềm vui ở những khoảng thời gian ngắn nào đó.
Sự thật số 9: Hy vọng về những ngày tháng tốt đẹp hơn sẽ trở thành sự thật.
Trong những thời điểm tồi tệ nhất của trầm cảm, người ta có thể nghĩ rằng không thể có tia hy vọng nào cho một cuộc sống tốt đẹp hơn được. Tuy nhiên sự tuyệt vọng đó chỉ là một phần của căn bệnh, chứ không phải sự thực. Thông qua quá trình điều trị, những suy nghĩ tích cực sẽ dần thế chỗ cho những suy nghĩ tiêu cực. Giấc ngủ và khẩu vị sẽ được cải thiện khi tâm trạng trầm uất trước kia bắt đầu khởi sắc. Và những ai duy trì việc tham vấn để được hỗ trợ bằng liệu pháp đối thoại sẽ trang bị được cho bản thân kỹ năng đương đầu tốt hơn để có thể giải quyết ổn thỏa những căng thẳng mà có thể kéo tâm trạng ta chùng xuống trong cuộc sống hằng ngày.
===========
Nguồn: https://www.webmd.com/depre…/ss/slideshow-depression-myths
Người dịch: SIN. Trung tâm đào tạo và dịch vụ tâm lý chuyên nghiệp WELink.

