Lịch sử của tham vấn tâm lý (counseling) có thể xem là một hành trình được khởi đi từ khoảng đầu thế kỷ 20 với ba trụ cột: Đầu tiên là tinh thần cũng như các hoạt động hỗ trợ (hướng dẫn) trong các trường học công nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp cận với các lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với xã hội công nghiệp hóa; Tiếp theo đó là hoạt động sử dụng các công cụ để đánh giá và định hướng nghề nghiệp phù hợp với đặc điểm nhân cách; và Thứ ba là trào lưu chăm sóc sức khỏe tâm thần theo hướng cộng đồng (một cách tiếp cận khác biệt về cơ bản so với tiếp cận y khoa, chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào các hoạt động trong bệnh viện một cách truyền thống).
Ba nhân vật được xem là người tạo dựng ban đầu cho lĩnh vực này là:
Jesse B. Davis, Frank Parsons và Clifford Beers. Trong đó Beers là “người trong cuộc” liên quan đến việc sử dụng các dịch vụ can thiệp tâm thần được xem là… tồi tệ trong các bệnh viện, và ông đã viết sách cũng như thực hiện nhiều hoạt động để thúc đẩy một lối quan tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần mang tính nhân văn hơn. Davis và Parsons là hai nhân vật làm việc trong môi trường giáo dục và đã đóng góp lớn vào chuyện định hướng nghề nghiệp phù hợp với đặc điểm tâm lý của người học.
Có thể nói, ngay từ đầu các ý tưởng hình thành ngành tham vấn đã có dấu hiệu “chống lại” hay phản đối cách tiếp cận truyền thống dựa vào bệnh viện hay y khoa rồi. Đến khoảng giữa thế kỷ 20 cùng với cách tiếp cận nhân văn trong tâm lý trị liệu từ Carl Rogers, ngành tham vấn như mọc thêm cánh và đã mang lại những bước tiến mạnh mẽ cho đến ngày nay.
Có thể chúng ta cần nhắc qua rằng từ cuối thế kỷ 19 đến gần giữa thế kỷ 20, tư tưởng và lối thực hành tham vấn tâm lý hay tâm lý trị liệu gần như tập trung vào phân tâm học, tiếp đó là lối đặc điểm sinh học, và trường phái hành vi. Ở đó người làm việc thường ở vị trí quyền lực cao hơn khách hàng (hay bệnh nhân) và họ làm các hoạt động theo mô hình y khoa trong bệnh viện, chẩn đoán và điều trị bệnh tật. Cho đến giữa thế kỷ 20 với tiếp cận nhân văn, Carl Rogers đã đặt lại tương quan giữa chuyên viên và khách hàng (thân chủ) ở thế cân bằng hơn về quyền lực và tôn trọng tiềm năng phát triển cũng như vị thế của khách hàng theo hướng họ quyết định cho cuộc đời của chính họ hơn.
Chính và từ Carl Rogers mà ngành tham vấn đã có thể xem như… bước ra khỏi cái bóng của việc bệnh tật hóa con người. Và khách hàng được nhìn nhận là lực lượng chính yếu quyết định sự thay đổi cho chính họ. Ngày nay, có thể chúng ta đã quen với câu nói “khách hàng là chuyên gia của cuộc đời họ” nhưng chúng ta biết rằng để đổi cách tiếp cận đó là một hành trình rất chông gai và vĩ đại. Tham vấn tâm lý là một lĩnh vực hoạt động theo lối dựa vào chứng cứ khoa học (evidence-based practice), tập trung vào việc hỗ trợ để khách hàng đạt tới mức độ có chất lượng hơn với các chức năng của mình. Nói cách khác nếu truyền thống dựa vào việc làm cho một người hết bệnh thì tham vấn là làm cho một người sống an lạc hơn.
Trải qua trên dưới 100 năm, ngành tham vấn với lối tiếp cận cực kỳ khác biệt nếu không muốn nói là ngược lại với lối tiếp cận bệnh lý hóa của phân tâm học và tiếp cận hành vi (tâm lý học lâm sàng) đã phát triển và định hình chính mình một bản sắc tuyệt vời. Ở đó rất nhiều khách hàng được hỗ trợ bằng cách ở trong một mối quan hệ tin tưởng và tích cực, và chính họ đã vượt qua những khó khăn của chính mình với sự đồng hành của chuyên viên.
Từ khoảng những năm 1990s đến nay, tham vấn tâm lý có thể xem đã hình thành một bản sắc riêng với truyền thống tâm lý học để trở thành một trong những lĩnh vực trong hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần của Hoa Kỳ, nhấn mạnh vào việc hỗ trợ những con người gặp trở ngại trong tâm lý trở nên những con người khỏe mạnh hơn và an lạc hơn. Để ý rằng đầu thế kỷ 21, đã có một định nghĩa có thể xem là thống nhất toàn cầu từ 31 tổ chức tham vấn tâm lý Hoa Kỳ và quốc tế. Định nghĩa này có tên là định nghĩa đồng thuận 20/20, được phát biểu như sau:
“Tham vấn tâm lý là một mối quan hệ chuyên nghiệp được tạo dựng bởi chuyên viên và khách hàng đa dạng bao gồm các cá nhân, nhóm, và gia đình nhằm thông qua đó giúp khách hàng lấy lại quyền làm chủ của bản thân và đạt tới các mục tiêu về sức khỏe, sức khỏe tâm thần, giáo dục, và nghề nghiệp” (Kaplan, Tarvydas, và Gladding, 2014).
Ngày nay cùng với sự phát triển của công nghệ và kỹ thuật số, tham vấn tâm lý đã có những bước tiến rất dài và đã có một định hình bản sắc nghề nghiệp rất rõ ràng. Tuy vậy trên thế giới vẫn còn nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam mới chỉ bước đi vài bước ban đầu. Phần lớn là vẫn còn “nằm trong” sự nhập nhằng với tâm lý trị liệu theo hướng bệnh lý hóa hay lâm sàng, hoặc có thể vẫn ở trong sự hiểu biết về lối cố vấn, tư vấn, chỉ vẽ cho người khác phải sống như thế nào cho khỏe mạnh.
Tham khảo:
https://psychology.iresearchnet.com/…/history-of…/
https://www.pearsonhighered.com/…/0/1/3/2/013265797X.pdf
https://www.newyorkbehavioralhealth.com/history-of…/
https://www.counselling-directory.org.uk/history.html
https://www.counseling.org/…/consensus-definition-of…
Ngô Minh Uy
Saigon 01/2024

