Quan sát nhiều thanh thiếu niên tại Việt Nam và cách thức cha mẹ giáo dục con cái của họ, tôi nhận thấy có nhiều điều cần nói về lòng tự tôn (self-esteem). Lòng tự tôn là khái niệm đã được dùng bởi nhiều nhà tâm lý học từ rất lâu đời, nhưng ở Việt Nam có nhiều người khi nghe nói thì nghĩ ngay đến lòng tự tin chứ không thật sự tường tận về lòng tự tôn.

Thử quay ngược thời gian xem thử lòng tự tôn đã được đề cập đến như thế nào: Đầu tiên là từ thế kỷ thứ 18 nhà tư tưởng giác ngộ David Hume đã đề cập đến lòng tự tôn như là một điều quan trọng khi chúng ta đề cao và nghĩ tốt về chính bản thân của mình trong thời gian dài. Nhà tâm lý học đầu tiên nói về lòng tự tôn có thể là William James – người có thể xem là cha đẻ của nền tâm lý học hiện đại, theo đó ông cho rằng lòng tự tôn là nói về sự thành công được phân chia bởi sự kỳ vọng, càng thấp lòng trông đợi thì càng cao sự thành công và rồi lòng tự tôn sẽ cao hơn. Do vậy để nâng cao lòng tự tôn, chúng ta có hai lựa chọn, hoặc là giảm sự mong đợi của chúng ta hoặc gia tăng những thành quả đạt được. Sau này Martin Seligman (tâm lý học tích cực) có dẫn lịch sử về lòng tự tôn của James và đề cập đến hai khái niệm quan trọng của lòng tự tôn là cảm giác tốt và làm tốt. Vào cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 khái niệm lòng tự tôn trở nên thời trang hơn và là một khái niệm tạo nhiều ảnh hưởng. Đó chính là trào lưu về lòng tự tôn với những tên tuổi như Stanley Coopersmith, Nathaniel Branden, Ayn Rand. (Carol Craig, Centre for Confidence and Well-Being, 2006)

Sự việc khởi đầu như vậy từ Hoa Kỳ, rồi đến Anh quốc và lan rộng ra như chúng ta thấy ngày hôm nay. Hiệp hội quốc gia về lòng tự tôn của Hoa Kỳ tin rằng lòng tự tôn là “một trải nghiệm của việc có khả năng đáp ứng được với những thách thức của cuộc sống và trở nên xứng đáng với hạnh phúc’’. Họ cũng tin vào tính trách nhiệm và sự giải trình của cá nhân là quan trọng, nó cho thấy không chỉ là thấy xứng đáng được tôn trọng nhưng còn là có được những kỹ năng và năng lực căn bản để thành công trong cuộc đời.

Hay đơn giản hơn khi nói đến lòng tự tôn là đề cập đến: 1) Thấy bản thân xứng đáng được tôn trọng; 2) Tự tin vào năng lực tư duy và giải quyết những thách thức của cuộc sống; 3) Tự tin vào con đường của bản thân để đạt tới hạnh phúc và thành công; và 4) Cảm giác mình xứng đáng khi khẳng định những nhu cầu và mong muốn của bản thân.

Nhiều nghiên cứu tại Hoa Kỳ (như của Katy Allen, hay Lauren G. Wild, Alan J. Flisher, Arvin Bhana và Carl Lombard) và các quốc gia khác cho thấy lòng tự tôn có liên quan nhiều đến các vấn đề hiện thời của đứa trẻ như bắt nạt trong trường học, nghiện ma túy, tự tử, hành vi quan hệ tình dục không an toàn… Theo đó, lòng tự tôn cao sẽ là yếu tố bảo vệ giúp đứa trẻ gia tăng nhiều cơ hội thành công và hạnh phúc trong cuộc sống, ngược lại lòng tự tôn thấp sẽ dẫn đến nhiều nguy cơ hơn cho đứa trẻ. Tuy vậy cũng cần lưu ý không phải cứ lòng tự tôn thấp thì đứa trẻ sẽ bị vướng vào chuyện tệ hại như vừa nêu mà nó còn tùy thuộc vào những kỹ năng xã hội và bối cảnh an toàn mà đứa trẻ nhận được.

Có hai thành phần cốt lõi và quan trọng khi đề cập đến lòng tự tôn là Cảm giác bản thân xứng đáng (có giá trị), và Cảm giác có năng lực và hiệu quả của bản thân.

  • Thành phần thứ nhất nói về cảm giác xứng đáng của bản thân, thường đề cập đến việc được yêu thương và đánh giá cao của người khác, nhất là cha mẹ và những người thân trong gia đình. Chính cha mẹ là những người đầu tiên mang lại cho con của họ cảm giác xứng đáng về bản thân của mình thông qua việc yêu thương đứa con vô điều kiện, đánh giá cao tất cả những gì đứa trẻ làm được và khích lệ chúng, yêu thương chúng và không làm nhục chúng.
    Buồn và tiếc là bản thân tôi thấy cha mẹ Việt Nam dường như thiếu hẳn khoản này, theo đó họ đang thể hiện lối giáo dục con cái phần nhiều mang tính chê bai và than phiền đứa trẻ nhiều hơn là yêu thương và khích lệ. Những câu nói hằng ngày theo kiểu “Cái thằng ngu kia, sao mày không làm được cái gì cho ra trò hết vậy!’’, rồi “Cái con đó mà được cái gì, tối ngày rông rông thôi, chẳng bao giờ chịu học hành!”. Tôi nghe nhiều người than phiền về cha mẹ của họ đầy trên mạng và còn nói đùa theo kiểu đó là hội chứng “con nhà người ta” (ý là đứa con hoàn hảo là con nhà người ta). Nhiều đứa trẻ được nuôi dạy như thế khi lớn lên thì khó có thể trông đợi được chúng có lòng tự tôn cao.
  • Thành phần thứ hai là cảm giác về năng lực và hiệu quả của bản thân. Đó chính là cảm nhận của việc có thể đối lại, có thể giải quyết được những thách thức, căng thẳng của cuộc sống. Điều này chỉ có thể được hình thành khi chính cá nhân ngay từ nhỏ đã được cho các cơ hội (bởi cha mẹ và người lớn) để đối diện với các biến cố của cuộc sống. Cha mẹ là những người đầu tiên giúp đứa con bằng việc để chúng tự sống cuộc đời của chính chúng nó, đừng bảo bọc và làm thay cho con hết mọi việc. Nói một cách đơn giản là hãy để đứa trẻ tự tay thu xếp cuộc đời của chúng còn cha mẹ thì hãy lo sống cuộc đời của mình.
Mô hình Lòng tự tôn theo Chris Mruk (1995)

Điều này nghe đơn giản nhưng có vẻ cha mẹ Việt Nam đã và đang gặp khó khăn nhiều lắm, theo đó nhiều cha mẹ, nhất là mẹ đang đề cao việc “hy sinh cho con”. Quả thật, càng hy sinh thì sẽ càng trông mong nhiều. Càng trông mong nhiều thì sẽ càng thất vọng nhiều. Lẽ ra cha mẹ hãy để cho đứa con vừa lo học hành và vừa lo các việc khác cho cuộc đời của nó thì cha mẹ lại lo hết mọi việc và trông mong đứa con phải học thật giỏi vì “chỉ có mỗi việc học mà không giỏi nữa thì làm gì ăn”, xong rồi so đo tính toán với đứa con về công lao của cha mẹ, về sự hy sinh tất cả cho con, rồi buồn phiền khi thấy chúng bắt đầu tách ra để sống cho lý tưởng của chúng.
Nếu nhìn rộng ra thì có vẻ ở các trường học Việt Nam đa phần cũng giáo dục đứa trẻ không khác mấy như trong các gia đình. Người lớn thay vì dạy đứa trẻ bằng cách để chúng trải nghiệm và học thì lại bắt chúng ngồi im lắng nghe rồi ra sức giảng và dạy hàng ngày. Kết quả là đứa trẻ thì không thấy mình có giá trị, không thấy mình có năng lực gì, còn cha mẹ và người lớn thì đau khổ và vất vả để dưỡng nuôi đứa con cho đến khi chúng trưởng thành (và thường là con cái có già thì dưới mắt ba mẹ vẫn luôn là đứa trẻ con).

Thường thì lòng tự tôn được đánh giá bởi sáu lĩnh vực sau đây:

  1. Những tiêu chí có tính kế thừa/ di truyền như đặc điểm thể lý, và những năng lực tự nhiên.
  2. Cảm giác đáng yêu và đáng thích thú.
  3. Là một hữu thể độc đáo của nhân loại, có giá trị, và sự đáng được tôn trọng.
  4. Cảm thấy đang trong sự kiểm soát của bản thân và có thể chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình.
  5. Đức hạnh và vẹn toàn.
  6. Những gì cá nhân đạt được – kỹ năng, của cải và sự thành công.

Theo đó, lòng tự tôn tích cực là đứa trẻ hình thành được niềm tin tưởng vào sự xứng đáng của bản thân đồng thời rèn luyện đủ năng lực cho bản thân, ngược lại thì là lòng tự tôn thấp. Riêng hai kiểu có tên là phòng vệ (defensive) bao gồm: kiểu 1 là dạng thấy bản thân có năng lực nhiều hơn cái thật sự chúng có (và hình thành kiểu ái kỷ), còn kiểu 2 là kiểu có năng lực nhưng lại tin rằng mình kém cỏi không bằng ai (hình thành nên kiểu giả tạo).

Mô hình Lòng tự tôn theo Chris Mruk (1995)

Nhiều đứa trẻ Việt Nam cho thấy có năng lực học tập rất tốt, hay nói cách khác là thuộc dạng thông minh nhưng lại gặp nhiều trở ngại khi đề cập đến sự tin tưởng vào bản thân của chúng, điều đó là do lòng tự tôn thấp. Cha mẹ cần lưu ý rằng tài năng là một chuyện, nhưng cái cần cho một cuộc sống thành công và hạnh phúc và đứa trẻ thật sự thấy cuộc sống của nó đáng được trân trọng và tài năng của chúng là hữu ích. Một số đứa trẻ khác thì thể hiện sự vị kỷ quá cao, chỉ nghĩ đến bản thân mình cũng vì lòng tự tôn thấp, chúng dùng những kiểu cách hành vi gây hấn như để tìm kiếm sự công nhận của người khác và kết quả là càng ngày càng trở nên tệ hại.

Tôi tin rằng để làm được điều này hay nói cách khác, để trẻ em Việt Nam có thể lớn lên với lòng tự tôn cao thì cha mẹ và người lớn nói chung cần thay đổi nhiều lắm, theo đó ít nhất là phải học lấy cách đối thoại một cách hòa bình và yêu thương đứa con hoặc đứa trẻ mà mình đang có trách nhiệm giáo dục. Các cha mẹ ngừng ngay việc xem đứa con là “của mình”, mà đứa con là của nó chứ không phải của cha mẹ. Nhiều cha mẹ có thể sẽ phản ứng lại ngay khi nghe tôi nói hãy thôi bảo bọc đứa con và đừng xem nó là của mình, vì cho rằng cuộc đời này đẻ con ra mà không hy sinh cho nó thì còn gì là ý nghĩa! Không phải như vậy, ý nghĩa của cuộc sống chính là ở những gì mình làm thật sự vì yêu thích và muốn làm chứ không phải ở chỗ nuôi một đứa con.

Khi nói đến lòng tự tôn là nói đến những cảm nhận của con người cá nhân đứa trẻ về các bối cảnh/ môi trường khác nhau: Bạn bè đồng trang lứa, Trường học, Gia đình, Hình ảnh cơ thể, Thể thao, và Tổng thể.

Một lòng tự tôn khỏe mạnh không bao giờ là điều diễn ra đột ngột hay như một món quà từ trời xuống, mà nó là điều mà đứa trẻ ‘’kiếm được’’, do vậy cha mẹ hãy giúp sức bằng cách tạo cơ hội cho đứa trẻ có được lòng tự tôn khỏe mạnh. Chúng ta không bao giờ mang lại cho cho người khác được lòng tự tôn cao mà chỉ có cách giúp họ tự đạt được điều đó. Lòng tự tôn không thể có bằng cách dội vào đứa trẻ liên tục sự khen ngợi, cũng không phải do đọc nhiều tài liệu, cũng không phải do gồng mình quyết tâm, và cũng không phải bằng các đầu vào thiếu thực tế. Đứa trẻ cần những trải nghiệm trong bầu không khí bình an, yêu thương và được tôn trọng, từ đó chúng sẽ hình thành lòng tự tôn cho chính chúng.

Ngô Minh Uy
Saigon 01/2017