BẠN HIỂU RÕ CHÍNH MÌNH ĐẾN ĐÂU?
Hiểu mình, biết mình, nhận diện bản thân hay tự nhận thức bản thân là một hành trình, không phải là điểm đến. Bạn đã bao giờ tự hỏi rằng nếu bản thân không còn tên, tuổi, sở thích hay thậm chí là những thành tựu mà mình đạt được, thì “mình là ai” chưa? Và khi ấy, bạn sẽ mô tả bản thân mình như thế nào?
Xuất phát từ những câu hỏi như trên, bài viết “Hiểu mình – Self-awareness” được thực hiện và tìm đến bạn như một lời mời gọi để dừng lại một chút và lắng nghe tâm trí của bản thân. Hy vọng những thông tin được truyền tải từ bài viết có thể khơi gợi nơi bạn đọc một vài suy nghĩ, câu hỏi hoặc có lẽ là cả sự phát hiện nào đó hữu ích để tự thân mỗi người có thể nhìn vào thế giới nội tâm của chính mình rõ hơn.
01. Khái niệm Nhận diện bản thân (self-awareness):
Nhận diện bản thân/Hiểu mình là yếu tố đầu tiên của Trí thông minh cảm xúc (Emotional Intelligence).
“Self-awareness is the ability to see yourself clearly and objectively through reflection and introspection” (Hiểu mình là khả năng nhìn thấy bản thân mình một cách rõ ràng và khách quan thông qua phản ánh và nội thị)
Theo Courtney Ackerman (2020) – nhà nghiên cứu về sức khỏe tâm thần
Tuy nhiên, “nhận diện bản thân” không chỉ là một khái niệm mới có gần đây mà đã hiện hữu từ rất lâu trước kia, xuất phát từ các nhà triết học đến những nhà nghiên cứu mà hầu như mỗi người đều có định nghĩa riêng về tự nhận thức/nhận diện bản thân.
Hàng nghìn năm trước, tại đền thờ Apollo tại Delphi, thông điệp từ thần Apollo: “Know thyself” – “Hiểu chính mình” được khắc ngay tại lối vào như một lời nhắc nhở dành cho những người bước chân vào nơi linh thiêng này, rằng: “trước khi tìm đến những lời tiên tri, các người hãy đi tìm và hiểu biết chính mình trước tiên”.
Hay như trong văn hóa Việt Nam, cũng có rất nhiều câu thành ngữ, tục ngữ nói về sự nhận biết và hiểu chính mình, chẳng hạn như câu “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”, hay “người khôn biết mình là ai” và nhiều câu thành ngữ, tục ngữ tương tự khác. Thông điệp mà chúng truyền tải quy cho cùng thì ta có thể hiểu là: một người khi nhận diện được và hiểu sâu sắc những cảm xúc, điểm mạnh, điểm yếu, nhu cầu và động lực của bản thân mình thì khả năng nhạy bén với chính mình của họ cũng tốt hơn; cũng từ đó mà hạn chế xu hướng tự chỉ trích hay chỉ trích người khác hoặc có những kỳ vọng không phù hợp với thực tế ở bản thân, thay vào đó là trung thực hơn với bản thân mình và với người khác.
02. Yếu tố hình thành của Nhận diện bản thân:
Theo Tasha Eurich, các yếu tố hình thành của sự nhận diện/nhận biết bản thân có thể được chia thành hai thành phần chính: tự nhận thức từ bên trong và tự nhận thức từ bên ngoài – trong mối quan hệ (với người xung quanh).
Tự nhận thức bên trong bản thân: được thể hiện qua cách chúng ta nhìn nhận các giá trị cốt lõi, đam mê, khát vọng, phản ứng của bản thân (bao gồm những suy nghĩ, cảm xúc, hành vi, điểm mạnh và điểm yếu) và tác động của mình lên người khác. Chẳng hạn, ta bắt đầu đặt những câu hỏi như: “Tôi là ai?”, “Tôi cảm thấy thế nào?”, “Điều gì khiến việc này làm tôi phản ứng như thế?”,… Từ việc quan sát nội tại, ta bắt đầu hiểu hơn về những phản ứng mà mình có và đây chính là nền tảng để hình thành “khái niệm về bản thân” (self–concept) của mỗi người.
Tự nhận thức trong tương tác: song song với việc tự quan sát bản thân thì ta cũng gia tăng khả năng hiểu và biết chính mình thông qua cách người khác nhìn nhận và phản hồi về những giá trị, đam mê, và phản ứng đời thường của chúng ta. Nếu ai đó khen ta làm tốt, chúng ta thường cũng tin rằng bản thân là một người giỏi và có năng lực; ngược lại, nếu bị chê bai, chỉ trích, ta có thể xem xét lại hành vi của mình và tự hỏi “mình ảnh hưởng đến người ta ra sao?” mà từ đó có thể đi đến việc điều chỉnh bản thân.
Với hai thành tố như trên, ta có thể thấy rằng dù cả hai đều là năng lực hiểu biết chính mình, nhưng không hẳn khi một người nhận thức cao về bản thân thì cũng có khả năng nhận thức trong tương tác với người khác tốt.
Tiến sĩ Eurich đã xây dựng bốn kiểu/trạng thái của tự nhận thức (4 self-awareness archetypes) dựa trên yếu tố hiểu mình tự bên trong và hiểu mình qua tương tác với bên ngoài:
- Một người nhận thức cao về bản thân và nhận thức được thông điệp đang được bày tỏ từ người đối diện (kiểu “Người nhận thức toàn diện” – “Aware”): Người này họ biết họ là ai, biết mong muốn của mình và cởi mở, trân trọng ý kiến của người xung quanh; hay nói cách khác, họ vừa biết bảo vệ ranh giới của họ và cũng biết bảo vệ ranh giới cho người khác.
- Một người nhận thức cao về bản thân nhưng nhận thức thấp về người đối diện (kiểu “Người nội tâm” – “Introspectors”): Họ hiểu mình là ai, bảo vệ ranh giới cho bản thân rất tốt nhưng không cởi mở trước những phản hồi từ người khác về bản thân họ, hoặc họ dễ lấn tới và bước qua ranh giới của người khác.
- Một người nhận thức thấp về bản thân nhưng lại luôn sẵn lòng thấu hiểu người khác (kiểu “Người chiều lòng” – “Pleasers”): Họ tập trung vào việc làm hài lòng phản hồi của người khác mà không hoặc ít bận tâm đến bản thân mình, nói cách khác, họ không thể xác lập ranh giới cho bản thân trong khi luôn biết cách giữ ranh giới cho người khác.
- Nhóm còn lại không tự nhận thức về mình cũng không nhận thức được các tương tác (kiểu “Người tìm kiếm” – “Seekers”): Họ chưa biết mình là ai và cũng không cởi mở đón nhận góc nhìn từ người khác, họ lẫn lộn các loại ranh giới, rối rắm hoặc trống rỗng.

=> Nhận biết bản thân trọn vẹn là khi mình có được sự nhận biết ở bản thân, đồng thời nhận biết được chính mình đang ở đâu trong mối quan hệ. Biết mình chưa bao giờ chỉ dừng ở việc phân định ranh giới rạch ròi hay trong tâm thế sẵn sàng lấn lướt người khác.
03. Lợi ích của Nhận diện bản thân:
Lợi ích của việc hiểu và biết bản thân mình không nằm ở mục đích khiến ta trở nên hoàn hảo, mà ở những giá trị:
- Ta biết mình là ai – để không phải cố gắng trở thành một ai khác;
- Ta hiểu mình cần gì – để không sống hoài trong những điều người khác muốn;
- Ta chấp nhận mình có những giới hạn – để dừng việc “mài” mình đến kiệt sức; và,
- Ta có thể yêu thương bản thân vô điều kiện.
Khi bạn có được sự nhận thức cao về bản thân, bạn càng thuận lợi để:
- Cảm thấy hài lòng và hạnh phúc hơn;
- Thấu hiểu và thông cảm cho người khác.

Ngoài ra, theo một số tác giả, tự nhận thức/nhận biết bản thân còn có thể:
- Giúp chúng ta chủ động hơn, gia tăng khả năng chấp nhận và dấn thân phát triển theo hướng tích cực (Sutton, 2016).
- Giúp chúng ta nhìn nhận sự việc một cách đa chiều qua góc nhìn từ người khác, rèn luyện năng lực tự chủ, khả năng làm việc sáng tạo và hiệu quả, đồng thời nâng cao cảm giác tự hào về bản thân và công việc của mình cũng như cảm nhận tổng thể về lòng tự tôn (Silvia & O’Brien, 2004).
- Là tiền đề để cải thiện khả năng ra quyết định (Ridley, Schutz, Glanz, &Weinstein, 1992).
- Giúp chúng ta nâng cao hiệu suất công việc, củng cố kỹ năng giao tiếp, nâng cao sự tự tin và trạng thái an lạc nơi làm việc (Sutton, Williams & Allison, 2015).
04. Thống kê số liệu:
a. Nghiên cứu quốc tế – Anna Sutton (2016):
Theo nghiên cứu “Đo lường các tác động thực tiễn của sự nhận diện bản thân” thông qua bảng câu hỏi về năng lực nhận diện bản thân (SAOQ – Self-Awareness Outcomes Questionnaire) của Sutton (2016), bà đã thiết kế nghiên cứu sâu hơn bằng việc phân tầng 4 nhóm để lấy mẫu:
- Các nhà trị liệu tâm lý và những người hành nghề trong lĩnh vực khoa học tâm lý khác;
- Học viên sau đại học và hệ vừa học vừa làm trong các chương trình thuộc lĩnh vực trị liệu tâm lý;
- Các chuyên gia về nhân sự và nhân viên các trường Kinh doanh;
- Học viên sau đại học và hệ vừa học vừa làm trong các chương trình thuộc lĩnh vực Kinh doanh.
Mẫu nghiên cứu có 76% là nữ, độ tuổi trung bình là 35,8 tuổi và phần lớn là người trẻ, khoảng 25 tuổi. Hầu hết những người trả lời khảo sát là những đối tượng đang đi làm (77% toàn thời gian, 15% bán thời gian) và 41% làm việc trong lĩnh vực trị liệu tâm lý – công việc có lương hoặc tình nguyện. Sinh viên chiếm 47% mẫu, với sự phân chia gần như bằng nhau giữa các khóa học liên quan đến kinh doanh bên cạnh lĩnh vực tâm lý trị liệu.
Thông qua thang đo SAOQ, các nhóm mẫu khác nhau thể hiện mức độ nhận diện và hiểu biết bản thân cũng không giống nhau. Kết quả kiểm định – t cho thấy sinh viên theo học các ngành liên quan đến tâm lý trị liệu có mức độ phản ánh bản thân cao hơn (RRQ – Phản ánh: t(81) = -3,3, p < .01, d = .74; SRIS – Tự phản ánh: t(79) = -2,5, p < .05, d = .56) và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động nâng cao sự tự nhận thức bản thân (t(76) = -5,16, p < .001, d = 1,18) so với sinh viên học các ngành liên quan đến lĩnh vực kinh doanh. Bên cạnh đó, những người đang tích cực tham gia vào hoạt động trị liệu tâm lý (dù là trả phí hay tình nguyện) có điểm số về xu hướng phản tư thấp hơn (t(204) = 3,6, p < .001, d = .5) nhưng tham gia tích cực hơn vào các hoạt động tự nhận thức (t(193) = -3,3, p < .001, d = .48) so với những người không tham gia.
Dữ liệu thu thập được từ thang đo SAOQ cũng cho thấy những khác biệt trong sự tự nhận thức bản thân được phản ánh rõ trong các kết quả báo cáo của từng nhóm. Sinh viên ngành Tâm lý học báo cáo mức Chi phí Cảm xúc (Emotional Costs – một trong các thang đo thành phần trong SAOQ) cao hơn (t(78) = -4,08, p < .001, d = .92) so với sinh viên ngành Kinh doanh. Ngoài ra, những người làm công tác trị liệu tâm lý cho thấy mức độ Phát triển bản thân thông qua sự phản chiếu (Reflective Self_Development) cao hơn (t(197) = -2,93, p < .01, d = .42) và tính Chủ động trong công việc (Proactivity at Work) lớn hơn (t(199) = -2,13, p < .05, d = .30) so với những người không hành nghề trong lĩnh vực này.

b. Nghiên cứu thực tiễn trong nước – Đại học Đồng Nai:
ThS. Ngọc Thiện (n.d.) với nghiên cứu “Tổ chức giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho sinh viên trường Đại học Đồng Nai theo mô hình lớp học đảo ngược”, qua khảo sát thực trạng về năng lực tự nhận thức ở sinh viên đã cho thấy phần lớn sinh viên có mức độ tự nhận thức nhất định. Cụ thể là 71,78% sinh viên cho biết họ hiểu rõ điều gì là quan trọng nhất đối với bản thân ở thời điểm hiện tại và 69,31% khẳng định họ biết rõ bản thân mong muốn điều gì trong cuộc sống. Tuy nhiên, có 45,05% sinh viên chưa xác định được những dự định tương lai của mình và 38,12% không biết đặc điểm nổi bật của bản thân.

Về khả năng nhận diện ưu điểm, chỉ 20,79% sinh viên xác định được ba ưu điểm của bản thân, 28,71% nhận biết được hai ưu điểm, 30,69% cho một ưu điểm và 19,8% không xác định được ưu điểm nào.
Ở chiều ngược lại, khi nói đến khuyết điểm, 19,31% sinh viên cho biết họ nhận thức được ba khuyết điểm, 35,64% nhận biết được hai, 31,19% xác định được một và 13,86% không biết rõ khuyết điểm nào của mình.
Về sở thích cá nhân, kết quả cho thấy 7,43% sinh viên xác định được trên ba sở thích, 49,50% nhận biết được ba, 38,12% nhận biết hai và 4,95% chỉ xác định được một điều mà mình yêu thích.
Về khả năng nhận biết những điều bản thân không thích, kết quả khảo sát cho thấy không có sinh viên nào xác định được nhiều hơn ba điều, 45,05% xác định được ba điều, 42,57% biết hai điều, và chỉ 12,38% biết một điều bản thân không thích.

c. Tổng hợp từ nghiên cứu quy mô lớn – Tasha Eurich:
Nhóm nghiên cứu của Tasha Eurich đã bắt tay vào một nghiên cứu với quy mô lớn về sự tự nhận thức bản thân. Với gần 5.000 người tham gia làm khách thể nghiên cứu, họ đã khảo sát về những nội dung chính như: sự nhận biết bản thân thực sự là gì, tại sao chúng ta cần nó và cách chúng ta có thể tăng cường năng lực này. Nghiên cứu của Eurich đã tiết lộ nhiều rào cản, ấn tượng và phát hiện bất ngờ về việc nhận biết bản thân và những gì cần thiết để nâng cao khả năng này. Hầu hết những người tham gia nghiên cứu tin rằng họ hiểu bản thân mình, nhưng kết quả cho thấy đa phần là có độ tự nhận thức thấp: chỉ khoảng 10–15% thực sự có độ tự nhận thức cao (cứ 10 người thì chỉ có 1-2 người thực sự nhận diện và hiểu biết về bản thân mình).

Các yếu tố chính làm nên nghiên cứu này:
_ Nghiên cứu phân tích kết quả của gần 800 bài nghiên cứu khoa học hiện có để hiểu cách mà các nhà nghiên cứu trước đây định nghĩa về sự nhận diện/nhận biết chính mình, khai thác các chủ đề và xu hướng đồng thời xác định những hạn chế của những nghiên cứu trước đây;
_ Khảo sát hàng ngàn người trên khắp các quốc gia với đa dạng ngành nghề để khám phá mối quan hệ giữa sự tự nhận thức và một số thái độ, hành vi như: cảm giác hài lòng trong công việc, sự đồng cảm, cảm nhận hạnh phúc và tình trạng căng thẳng. Khảo sát những người hiểu rõ những người này để xác định mối quan hệ giữa bản thân và đánh giá của người khác về sự tự nhận thức của người tham gia khảo sát;
_ Mặc dù Eurich nhấn mạnh sự cần thiết của một công cụ đánh giá nhận thức bản thân toàn diện và cho biết nhóm của bà đã thử nghiệm một hệ thống đánh giá gồm bảy yếu tố, hiện chưa có công bố khoa học chính thức về việc phát triển và xác thực công cụ này theo tiêu chuẩn học thuật;
_ Tiến hành phỏng vấn sâu với 50 người có mức tự nhận thức cao để tìm hiểu về các hành động chính giúp họ đạt được điều đó, cũng như niềm tin và lối thực hành của họ;
_ Khảo sát hàng trăm nhà quản lý và nhân viên của họ để tìm hiểu về mối quan hệ giữa sự tự nhận thức của các nhà lãnh đạo và thái độ của nhân viên như sự cam kết, hiệu quả lãnh đạo và sự hài lòng trong công việc.
05. Ứng dụng:
Có nhiều phương pháp thực hành đơn giản nhưng hiệu quả để phát triển năng lực tự nhận thức. Sau đây chúng ta hãy cùng điểm qua một số hoạt động được gợi ý từ các nghiên cứu khoa học cũng như ứng dụng thực tế trong giáo dục và trị liệu nhé!
a. Viết nhật ký (Journaling):
Viết nhật ký/ghi chép cảm xúc/viết phản tư/viết suy nghiệm là một phương pháp đơn giản nhưng sâu sắc giúp cá nhân kết nối với cảm xúc, suy nghĩ và trải nghiệm của bản thân. Trong bối cảnh phát triển năng lực tự nhận thức (hiểu/biết mình) – một yếu tố cốt lõi của trí tuệ cảm xúc, việc viết ra những gì đang diễn ra trong nội tâm là bước đầu giúp cá nhân hiểu rõ hơn về chính mình mà từ đó có thể đưa ra quyết định và điều chỉnh hành vi tốt hơn, cũng như sống một cách có chủ đích hơn.
Theo nhiều nguồn nghiên cứu trong lĩnh vực Tâm lý học, nổi bật là công trình của James W. Pennebaker – Giáo sư tâm lý học tại Đại học Texas, Austin. Trong cuốn sách “Opening Up: The Healing Power of Expressing Emotions” (1997), Pennebaker đã chứng minh rằng việc viết về cảm xúc và trải nghiệm cá nhân có thể cải thiện sức khỏe tâm thần và thể chất.
“Writing about emotional upheavals can improve both mental and physical health.”
Theo Pennebaker (1997)
Rằng khi ta viết ra những cảm xúc mạnh của mình, đặc biệt là những cảm xúc khó chịu hoặc đau đớn, ta đang giúp bản thân xử lý chúng một cách lành mạnh, từ đó giúp giảm căng thẳng, tăng khả năng phục hồi tâm lý, cải thiện giấc ngủ, thậm chí tăng cường hệ miễn dịch. Viết giống như một hình thức “giải tỏa”, giúp ta nhìn rõ vấn đề thay vì bị nó chi phối trong tiềm thức.
Burton & King (2004) – Trong nghiên cứu “The health benefits of writing about intensely positive experiences”, hai tác giả phát hiện rằng viết về các trải nghiệm tích cực trong vòng ba ngày liên tiếp có thể giúp cải thiện tâm trạng và giảm số lần đến thăm khám ở cơ sở y tế trong thời gian sau đó. Nghiên cứu được đăng trên Journal of Research in Personality, cho thấy việc viết nhật ký không chỉ giúp xử lý cảm xúc tiêu cực mà còn nuôi dưỡng cảm xúc tích cực.
Gợi ý cách thức thực hiện:
_ Thời gian & tần suất: Mỗi ngày hoặc 3–4 lần/tuần; Thời lượng: 10–20 phút/lần.
_ Cách thực hiện:
- Chọn không gian yên tĩnh, không bị làm phiền;
- Viết tự do, không chỉnh sửa câu chữ, không cần đúng ngữ pháp;
- Chủ đề gợi ý có thể bao gồm: “Hôm nay mình cảm thấy thế nào? Vì sao? Có điều gì khiến mình bị ảnh hưởng nhiều nhất trong ngày? Mình muốn thay đổi điều gì ở bản thân? Tại sao? Mình biết ơn điều gì hôm nay?”;
- Có thể sử dụng những ứng dụng như Daylio, Moodnotes, Journey,… nếu không thích viết tay.
b. “WHO AM I?”:
Bài tập “Who Am I?” (Tôi là ai?) là một phương pháp truyền thống nhưng có sức mạnh sâu sắc trong việc giúp cá nhân khám phá bản thân một cách trực tiếp và chân thật. Trong bài tập này, người tham gia sẽ được yêu cầu viết ra 20 câu bắt đầu bằng “Tôi là…” (ví dụ: “Tôi là một người hay lo lắng”, “tôi là con của mẹ tôi”, “tôi là sinh viên”, “tôi là người cầu toàn”,…). Mục tiêu không phải là trả lời “đúng” mà là để thể hiện cách bản thân nhìn nhận chính mình – một điều then chốt trong quá trình phát triển tự nhận thức và bản sắc cá nhân.
Bài tập này được phát triển bởi Kuhn & McPartland (1954) trong nghiên cứu cổ điển “An empirical investigation of self-attitudes” đăng trên tạp chí American Sociological Review:
TST (Twenty Statements Test) đã được sử dụng rộng rãi trong hàng trăm nghiên cứu thuộc các lĩnh vực tâm lý học xã hội, trị liệu cá nhân, phát triển nhân cách và giáo dục. TST chứng minh được độ hiệu quả trong việc: Khơi gợi tầng sâu của sự nhận diện bản thân giúp người làm kiểu bài tập này hiểu thêm hệ giá trị cá nhân; Hỗ trợ cá nhân tự phản chiếu để thay đổi hành vi hoặc tăng sự tự tin. “The Twenty Statements Test (TST) reveals how people view themselves through spontaneous self-descriptions.” – Kuhn & McPartland (1954).
Mục tiêu của bài tập này là giúp khám phá bản sắc cá nhân (personal identity), nhận diện mô thức suy nghĩ về bản thân (self-schemas), so sánh giữa “cái tôi lý tưởng” và “cái tôi thực tế”, cũng như làm rõ mâu thuẫn bên trong nội tại hoặc vai trò xã hội đa dạng.
_ Chuẩn bị: Một trang giấy trắng và bút (hoặc file tài liệu Word).
_ Cách thức thực hiện hoạt động “Who Am I?”: (https://mpathtowellbeing.com/…/Twenty-Statements-Test-w…)
Bước 1: Bạn hãy viết ra 20 câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?”, mỗi câu bắt đầu bằng “Tôi là…”. Viết nhanh trong khoảng 5 phút, không đánh giá hay chỉnh sửa nội dung, chỉ viết theo dòng suy nghĩ tự nhiên.
Bước 2: Phân tích phản hồi. Sau khi hoàn thành, hãy phân loại từng câu trả lời vào 4 nhóm (mode):
- A-mode (vật lý/nhân dạng): Đặc điểm nhận diện bên ngoài hoặc địa lý.
Ví dụ: Tôi là người tóc vàng, tôi là người cao, tôi sống ở Đà Nẵng.
- B-mode (vai trò xã hội): Các vai trò xã hội, tôn giáo, sắc tộc hoặc nhóm xã hội.
Ví dụ: Tôi là sinh viên, tôi là người Công giáo, tôi là người Việt Nam.
- C-mode (tính cách/sở thích): Cảm xúc, hành vi cá nhân, đặc điểm nội tại.
Ví dụ: Tôi là người hướng nội, tôi thích nhạc cổ điển, tôi là người hay lo lắng.
- D-mode (bản sắc phổ quát): Tuyên bố khái quát hoặc mang tính triết lý.
Ví dụ: Tôi là con người, tôi là một phần của vũ trụ.
Bước 3: Phân tích kết quả:
- Nếu ở A-mode nhiều hơn: họ có khái niệm bản thân (self–concept) dựa vào ngoại hình của họ đối với người khác hơn là vào phẩm chất bên trong.
- Nếu ở B-mode nhiều hơn: họ có khái niệm bản thân khi ở trong tư cách thành viên hay có vai trò trong (các) hội nhóm hoặc tổ chức.
- Nếu ở C-mode nhiều hơn: bản thân họ độc lập hơn và tự định nghĩa mình theo hành động và cảm xúc của cá nhân thay vì mối liên hệ của họ với người khác.
- Nếu ở D-mode nhiều hơn: họ có thể cảm thấy không chắc chắn về nguồn gốc của ý thức về bản thân của họ.
_ Câu hỏi gợi mở sau khi trả lời các câu hỏi từ TST:
1. Bạn thường làm việc vì lợi ích bản thân hay vì tập thể?
2. Từ đâu khiến bạn hình thành bản sắc như hiện tại?
3. Điều gì xảy ra nếu cả xã hội đều thiên về chỉ một kiểu (B hoặc C)?
4. Bạn có thể kết hợp điểm mạnh của cả hai không? Nếu có, bạn làm thế nào?
c. Nhận phản hồi từ người khác (360 – degree feedback):
Là phương pháp đánh giá đa chiều, bản thân nhận được phản hồi từ nhiều nguồn khác nhau như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, hoặc các mối quan hệ thân thiết. Là một phương pháp giúp ta hiểu rõ hơn về cách người khác nhìn nhận mình để điều chỉnh hành vi và phát triển khả năng hiểu mình, đặc biệt ở khía cạnh từ bên ngoài (trong tương tác với người khác).
_ Cách thực hiện: Có thể chia thành các nhóm chính để nhận phản hồi về các khía cạnh như công việc, mối quan hệ xã hội, gia đình.
Ví dụ: “Bạn nghĩ điểm mạnh/yếu của mình là gì?”, “Bạn nghĩ mình thường đối diện với căng thẳng như thế nào?”, “Mọi người nghĩ bạn có thể làm được công việc này hay không?”
Lưu ý: Cần suy xét những lời nhìn nhận của người khác có mang tính khách quan hay không, ta nên chọn những người sẵn sàng chia sẻ chân thành, mang tính xây dựng và bản thân tiếp nhận những góc nhìn, nhận xét của họ một cách cởi mở.
d. Thiền chánh niệm:
Yếu tố quan trọng của chánh niệm chính là tự nhận thức hay hiểu biết chính mình, việc chúng ta thực hiện chánh niệm, cũng có nghĩa là chúng ta đang quan sát dòng suy nghĩ và cảm xúc của bản thân mà không phán xét, từ đó nhận diện nội tâm một cách trung thực và phát triển sự hiểu mình từ bên trong.
Theo Tiến sĩ Daniel Siegel – người phát triển bài thực hành “The Wheel of Awareness” (Bánh xe nhận thức) như một cách ẩn dụ để thực hành sự tự nhận thức. Ở đây, “Bánh xe” là một phép ẩn dụ trực quan về cách thức hoạt động của tâm trí con người. Bên cạnh bánh xe còn có “vành bánh xe” được biết đến như 5 giác quan của chúng ta, bên cạnh đó còn có giác quan thứ 6 – được cho là đời sống tinh thần, suy nghĩ và mối quan hệ của chúng ta. Cuối cùng, “Trục bánh xe” là nơi mà chúng ta nhận thức, tập trung vào sự hiểu mình từ bên trong và trong tương tác với người xung quanh (từ bên ngoài).
=> Tham khảo cách thức thực hiện tại: https://www.act.gov.au/…/2380479/Wheel-of-Awareness.pdf
e. Bảng theo dõi cảm xúc (Mood Tracker):
Bảng theo dõi cảm xúc hay nhật ký cảm xúc/tâm trạng được thiết kế nhằm giúp bản thân quan sát và hiểu cách bản thân phản ứng (cảm xúc, suy nghĩ, hành vi) trong một tình huống nhất định, từ đó gia tăng hiểu biết về cảm xúc của bản thân theo thời gian.
=> Công cụ: Bullet Journal – Bảng theo dõi cảm xúc, Daily Mood Chart (https://www.blackdoginstitute.org.au/…/19…),…
Gợi ý nhỏ: Một biểu đồ đơn giản theo dõi cảm xúc theo ngày (Happy – Sad – Neutral) có thể giúp bạn dễ dàng phát hiện các mẫu lặp cảm xúc và hiểu rõ hơn về tác nhân gây ảnh hưởng – từ đó điều chỉnh nhịp sống và thói quen hiệu quả hơn.
_ Bên cạnh đó, bản thân có thể tự theo dõi thông qua việc trả lời các câu hỏi sau:
- Mình cảm thấy thế nào?
- Vì sao mình lại cảm thấy như vậy?
- Mình đã làm gì để ứng phó?
_ Có thể dùng app như Moodnotes, Daylio hoặc sổ tay tự làm.
Ngoài ra, còn có những phương pháp khác để chúng ta có thể nâng cao sự tự hiểu biết về bản thân như:
_ Vòng tròn kiểm soát (Circle of Control);
_ Bài tập “Vai diễn trong cuộc sống”;
_ Bài tập SWOT (Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats).
Tự nhận thức là một kỹ năng – cũng giống như mọi kỹ năng khác, nó cần được rèn luyện đều đặn và kiên nhẫn. Hy vọng bài viết này sẽ là một bước đệm giúp bạn đọc bắt đầu hành trình thấu hiểu chính mình – từ đó sống có chủ đích và kết nối sâu sắc hơn với thế giới xung quanh.
=====
Nguồn tham khảo:
1. Daniel Goleman. The First Component of Emotional Intelligence. Emotional Intelligence Self-Awareness. Harvard Business Review Press. 3-6.
2. Tasha Eurich. What Self-Awareness Really Is (and How to Cultivate it).Emotional Intelligence Self Awareness. Harvard Business Review Press. 18-20.
3. Ackerman, C.E. (2020). What is Self-Awareness? (+5 Ways to Be MoreSelf-Aware). PositivePsychology.com.
https://positivepsychology.com/self-awareness-matters-how…
4. Annie (2025). Internal Vs External Self-Awareness: Unlock Personal Growth.WeMindGrowth.
https://wemindgrowth.com/internal-vs-external-self-awareness
5. QHome – Yoga Psychology. https://selfcare.vn
6. Karimova, H. (2018). 7 Best Mood Trackers to Chart and Journal Your Mood. PositivePsychology.com.https://positivepsychology.com/mood-charts-track-your-mood/
7. Sutton, A. (2016). Measuring the effects of self-awareness: Construction of the Self-Awareness Outcomes Questionnaire. Europe’s Journal of Psychology, 12(4), 645–658. https://doi.org/10.5964/ejop.v12i4.1178
8. Siegel, D. (2018). The Wheel of Awareness, act.gov.au.https://www.act.gov.au/…/2380479/Wheel-of-Awareness.pdf
9. Siegel, D. (n.d.). Wheel of Awareness. Dr. Dan Siegel. https://drdansiegel.com/wheel-of-awareness/
10. Tasha Eurich. What Self-Awareness Really Is (and How to Cultivate it). Emotional Intelligence: Awareness, Harvard Business Review Press. 13-17.
11. Ngọc Thiện, T. T. (n.d.). Tổ chức giáo dục kĩ năng tự nhận thức bản thân cho sinh viên trường Đại học Đồng Nai theo mô hình lớp học đảo ngược. Tạp chí: Tạp chí khoa học – Đại học Đồng Nai, số: 06-2017. https://tapchikhoahoc.dnpu.edu.vn/UserFiles/Docs/
Nhóm thực hiện: Nguyễn Hoàng Anh Thư, Huỳnh Giao, Nguyễn Thị Mỹ Ngọc, Trần Đặng Kim Ngân, Lê Trần Thu Phương.
Biên tập và hiệu đính: SIN. Trung tâm Tâm lý Chuyên nghiệp WELink.

