những lúc tạm gọi là “nghi ngờ nhân sinh”, kiểu một cá nhân không nhìn thấy đâu là cái trụ để bám mà tin tưởng vào con người. Hẳn nhiên chúng ta phải hiểu rằng việc tin tưởng vào con người hay không nói chung xuất phát từ bản thân chứ không phải do hành động hay lối sống của người khác. Tôi gặp những con người cá nhân loay hoay trong niềm tin vào chính giá trị của chính mình, không kể là một người trẻ bình thường hay một chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý. Hoặc là trong bối cảnh nỗ lực nhận biết về giá trị của mình, nhiều người cũng cảm thấy khó khăn từ việc hiểu rõ về các khái niệm và tiếp theo đó là sự diễn đạt trong cuộc sống thật hàng ngày. Bài viết này mong muốn góp phần làm rõ các khái niệm đó.

Có hai khái niệm cần làm rõ, một là những giá trị mà một cá nhân đánh giá cao (tiếng Anh: personal values); và hai là cảm giác bản thân có giá trị (tiếng Anh: self-worth hay self-esteem).

Trung tâm CBT (liệu pháp nhận thức- hành vi) Vùng Vịnh (Bay Area) có đưa ra sự diễn giải mà tôi muốn trích lại. (Xem bài viết ngày 25/06/24 ở đây: https://bayareacbtcenter.com/self-value-vs-self-worth)

  • Bản thân có giá trị (hay có thể gọi là lòng tự tôn) là một niềm tin sâu sắc gắn liền với bản chất bên trong của mỗi cá nhân rằng tôi là một người tốt và đáng được tôn trọng. Nó là một niềm tin có ý xác nhận bản thân là một người đáng yêu và không có gì biến động bên ngoài có thể phá hủy bản thân.
  • Giá trị của bản thân (hay còn gọi là giá trị cá nhân) là sự thể hiện cách chúng ta đối xử với bản thân và thế giới theo những gì chúng ta đánh giá cao hay xem trọng. Giá trị bản thân nghiêng về những hành động và hành xử hơn là nhận thức hay niềm tin của bản thân về việc có giá trị của mình.

Nếu gộp hai khái niệm này lại, chúng ta sẽ thấy một khái niệm diễn tả NIỀM TIN VỀ CHUYỆN TÔI CÓ GIÁ TRỊ mang tính nội tại và một khái niệm diễn tả HÀNH ĐỘNG THỰC TẾ HÀNG NGÀY hướng ra bên ngoài dựa trên những gì bản thân tin là có giá trị với chính mình. Nói cách khác, hai khái niệm này là quan trọng và có tính thống nhất cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người cá nhân. Khi chúng ta có niềm tin vững chắc vào giá trị tốt lành của bản thân, chúng ta có khuynh hướng chấp nhận chính con người của mình nhiều hơn mà không ảo tưởng hay tự ti về bản chất của chính mình. Lòng tự tôn cũng giúp chúng ta vững vàng hơn trong việc sống đúng với những gì bản thân đánh giá cao trong cuộc đời. Mở rộng, có rất nhiều nghiên cứu trong tâm lý học cho thấy cái bên trong (nội tại, bản chất) sẽ điều tiết cái bên ngoài (bao gồm những hành xử hay mục tiêu).

Cả hai khái niệm này nếu đặt câu hỏi về nguồn gốc hình thành, chúng ta sẽ thấy có những nguồn rất căn bản sau:

  1. Một là ý thức về chính con người cá nhân của mình hay mức độ nhận diện bản thân ngay từ những ngày tháng tuổi mẫu giáo (03-05 tuổi). Sẽ là một điểm tốt nếu ngay từ tuổi này chúng ta được lắng nghe, được tôn trọng, và được chấp nhận bất kỳ điều gì mà bản thân cảm nhận và bày tỏ hay đòi hỏi.
  2. Điều thứ hai liên quan chặt chẽ đến điều thứ nhất là vai trò của cha mẹ và những môi trường giáo dục tuổi thơ. Gia đình bao gồm cha mẹ, anh chị, và những người lớn khác (ông bà, cô dì chú bác…) và trường học (từ mẫu giáo) bao gồm giáo viên và các nhân sự có trách nhiệm khác nếu cung cấp được một không khí điềm tĩnh, hài hòa, ấm áp, và chấp nhận… thì sẽ rất hữu ích cho chúng ta phát triển lòng tự tôn và hình thành niềm tin vào chính sự có giá trị của chính mình.
  3. Yếu tố thứ ba là một sự mở rộng ra xã hội và bối cảnh văn hóa, nhất là với bạn bè đồng trang lứa, yếu tố này có đóng góp rất lớn. Đó là lý do cho những khẳng định rằng môi trường đồng trang lứa tiêu cực – chẳng hạn có những chuyện như áp lực cạnh tranh không cần thiết hay những sự hơn thua, tình trạng bắt nạt hoặc tẩy chay, sẽ là tác động rất tiêu cực cho sự phát triển lòng tự tôn của chúng ta.

Về khái niệm và nguồn gốc cội rễ của lòng tự tôn (niềm tin về giá trị tốt lành của bản thân) hay định hướng hành động cho điều mà bản thân đánh giá cao (giá trị cá nhân) hy vọng đã đủ để hiểu và nhận ra sự tương quan quan trọng của hai yếu tố bên trong và bên ngoài này.

Tiếp sau đây tôi sẽ chú tâm nhiều hơn đến giá trị bên trong của cá nhân, bởi vì như đã đề cập, đây là nguồn cội cho sự chấp nhận và đánh giá cao chính mình cũng như giúp phát triển định hướng cho hành động hàng ngày.

Sau đây là năm yếu tố hàng đầu được sử dụng để đo lường và so sánh giá trị bản thân của họ với giá trị của người khác. Tuy nhiên, đó là những yếu tố không lành mạnh và chẳng thể nào đại diện cho giá trị của bản thân. (Morin, 2017. Xem: https://www.psychologytoday.com/us/blog/what-mentally-strong-people-dont-do/201707/how-do-you-measure-your-self-worth.)

[Phần sau đây tôi trích lại và sử dụng công cụ dịch tiếng Việt tự động từ một bài viết trên positivepsychology.com của Courtney E. Ackerman, MA. ngày 06/11/2018 (Xem: https://positivepsychology.com/self-worth).]

  1. Ngoại hình – có thể được đo bằng số cân, kích cỡ quần áo mặc hoặc mức độ chú ý mà người khác dành cho bạn;
  2. Giá trị tài sản ròng – có thể là thu nhập, tài sản vật chất, tài chính hoặc tất cả những thứ trên;
  3. Bạn biết ai/ vòng tròn xã hội của bạn – một số người đánh giá giá trị của bản thân và giá trị của người khác dựa trên địa vị và những người quan trọng và có ảnh hưởng mà họ biết;
  4. Công việc/ sự nghiệp của bạn – chúng ta thường đánh giá người khác qua công việc họ làm; ví dụ, một nhà môi giới chứng khoán thường được coi là thành công và có giá trị hơn một người gác cổng hay một giáo viên;
  5. Những gì bạn đạt được – như đã lưu ý trước đó, chúng ta thường sử dụng thành tích để xác định giá trị của một ai đó (cho dù đó là giá trị của chính chúng ta hay của người khác), chẳng hạn như thành công trong kinh doanh, điểm SAT hoặc vị trí trong cuộc chạy marathon hoặc thử thách thể thao khác.

Cũng vậy, có khá nhiều ý kiến bác bỏ lối tiếp cận này, chẳng hạn Stephanie Jade Wong đề xuất những yếu tố không quyết định lòng tự tôn, bao gồm:

  1. Danh sách việc cần làm của bạn: Đạt được mục tiêu là điều tuyệt vời và bạn sẽ cảm thấy thật tuyệt khi hoàn thành các mục tiêu trong danh sách việc cần làm, nhưng nó không liên quan trực tiếp đến giá trị của bạn với tư cách là một con người;
  2. Công việc của bạn: Không quan trọng bạn làm gì. Điều quan trọng là bạn làm tốt và nó làm bạn thỏa mãn;
  3. Số người theo dõi phương tiện truyền thông xã hội của bạn: Cũng không quan trọng có bao nhiêu người nghĩ rằng bạn xứng đáng được theo dõi hoặc chia sẻ lại. Việc xem xét quan điểm của người khác có thể mang tính khai sáng và lành mạnh, nhưng ý kiến ​​của họ không ảnh hưởng đến giá trị bẩm sinh của chúng ta;
  4. Tuổi của bạn: Bạn không quá trẻ hay quá già cho bất cứ điều gì. Tuổi của bạn chỉ là một con số và không ảnh hưởng đến giá trị của bạn như một con người;
  5. Người khác: Như đã lưu ý ở trên, không quan trọng người khác nghĩ gì hay người khác đã làm gì hoặc đạt được gì. Sự hài lòng và hoàn thành cá nhân của bạn quan trọng hơn nhiều so với những gì người khác nghĩ, nói hoặc làm;
  6. Bạn có thể chạy xa đến mức nào: Thời gian chạy một dặm của bạn là một trong những yếu tố ít quan trọng nhất đối với giá trị bản thân của bạn (hoặc bất kỳ điều gì khác). Nếu bạn thích chạy và cảm thấy thỏa mãn khi cải thiện thời gian của mình, thì tốt cho bạn! Nếu không, thì tốt cho bạn! Khả năng chạy của bạn không quyết định giá trị bản thân của bạn;
  7. Điểm của bạn: Tất cả chúng ta đều có điểm mạnh và điểm yếu khác nhau, và một số người trong chúng ta đơn giản là không phù hợp với lớp học. Điều này không ảnh hưởng đến giá trị của chúng ta với tư cách là con người, và một học sinh toàn điểm A cũng có giá trị và xứng đáng như một học sinh toàn điểm F hoặc một học sinh bỏ học;
  8. Số lượng bạn bè bạn có: Giá trị của bạn như một con người hoàn toàn không liên quan gì đến số lượng bạn bè hoặc kết nối bạn có. Chất lượng các mối quan hệ của bạn mới là điều thực sự quan trọng;
  9. Tình trạng mối quan hệ của bạn: Cho dù đang độc thân, hẹn hò bình thường hay đang trong một mối quan hệ nghiêm túc, giá trị của bạn vẫn như vậy – tình trạng mối quan hệ không làm thay đổi giá trị của bạn;
  10. Số tiền (hoặc thiếu tiền) trong ngân hàng: Nếu bạn có đủ tiền để tồn tại về mặt vật lý (thực tế có thể là 0 đô la), thì bạn đã đạt được mức “giá trị” tối đa mà bạn có thể nhận được từ tiền (gợi ý: là 0!);
  11. Sở thích của bạn: Không quan trọng bạn có “gu thẩm mỹ tốt” hay không, bạn bè và người quen của bạn có nghĩ bạn tinh tế hay không, hoặc bạn có con mắt tinh tường về những thứ tinh tế hơn không. Giá trị của bạn là như nhau.
  12. Bất cứ điều gì hoặc bất kỳ ai trừ chính bạn: Ở đây chúng ta đi vào trọng tâm của vấn đề – bạn là người duy nhất quyết định giá trị bản thân. Nếu bạn tin rằng mình xứng đáng và có giá trị, thì bạn xứng đáng và có giá trị. Ngay cả khi bạn không tin rằng mình xứng đáng và có giá trị, hãy đoán xem – bạn vẫn xứng đáng và có giá trị!

Có nhiều lý luận về chuyện “Vậy lòng tự tôn hay giá trị của bản thân gồm những gì?”, tôi sẽ “gom” lại thành 04 ý chính sau:

  • Một là tin vào chính mình, thể hiện bằng việc dám ra quyết định và dám chịu trách nhiệm cho những gì mình làm. Hay nói cách khác, không để ai quyết định thay cho chính mình.
  • Hai là nhận diện rõ ràng sở thích (hứng thú) và khả năng của bản thân và dấn thân sống cho điều đó. Những người làm và sống theo chỉ đạo của người khác rõ ràng là chưa tôn trọng giá trị của chính mình.
  • Ba là vững vàng và ổn định cảm xúc của chính mình trong các tình huống. Cảm xúc cũng không bị lèo lái hay can thiệp bởi người khác hay bởi lý trí của chính mình.
  • Bốn là có một ranh giới cá nhân rõ ràng và không để dính mắc vào với người khác theo kiểu lệ thuộc hay thao túng.

Tóm lại, một con người cá nhân sẽ ổn định và vững vàng bất kể có những biến động nào nếu duy trì được niềm tin vào chính giá trị hay điều tốt đẹp sẵn có của chính mình. Với một số người có thể có khó khăn hơn người khác khi phải bận tâm tái xây dựng niềm tin vào bản thân khi đã trưởng thành, tuy nhiên đó là điều hoàn toàn có thể làm được.

Điều cần thiết là tránh gán ghép giá trị của chính mình vào bất kỳ điều gì hay ai khác ngoài chính bản thân. Nói cách khác, những thành tựu hay những gì bản thân làm được hay sự công nhận và khen ngợi của người khác không có tác động đến giá trị của bản thân. Tự thân sự tồn tại của mỗi người trong cuộc đời đã mang ý nghĩa về chuyện “tôi có giá trị” và “đáng được tôn trọng”. Từ đó, quyết định theo đuổi điều bản thân cho là quan trọng và đáng giá trong cuộc sống hàng ngày.

Thang đo này có vẻ hữu ích để đo cảm nhận và niềm tin về bản thân: https://emerge.ucsd.edu/r_21p3rycye0uuo5p

Nguồn ảnh: lanredahunsi.com
Ngô Minh Uy