Trong những buổi làm việc, các chuyên viên – nhất là những người mới vào nghề, có thể cảm thấy lúng túng để định hình vấn đề của thân chủ (khách hàng), và trong lòng xuất hiện một thôi thúc để “có một cái tên” cho vấn đề khách hàng gặp phải. Đương nhiên từ phía khách hàng thì họ cũng ao ước biết rằng “tôi bị cái gì!”. Trong trường hợp này, dường như nhiều người tin rằng “biết vấn đề là gì thì đã giải quyết được 50% vấn đề”, nhưng e là niềm tin đó rất thiếu căn cứ, bởi con đường giải quyết một vấn đề không thể tính toán kiểu chia đôi như vậy. Đó là chưa kể thông thường thì vấn đề không tồn tại độc lập mà nó có những thứ kèm theo.

Chẳng hạn, một người tin rằng mình bị trầm cảm và liệt kê những triệu chứng như buồn bã, chán nản, mất động lực,… và người hỗ trợ tâm lý có thể cũng dễ dàng đồng ý với khách hàng rằng họ bị trầm cảm. Nhưng câu chuyện không đơn giản như vậy và sẽ lộ ra dần sau những câu hỏi của chuyên viên liên quan đến mục tiêu và mong đợi của khách hàng trong cuộc sống, niềm tin của họ về một con người thành công, hay mối tương quan của họ với những người thân,… (vô cùng nhiều câu hỏi có thể đặt ra, và ở đây sẽ cho thấy tài năng của người hỏi – người đang hỗ trợ khách hàng). Khởi đi từ việc than phiền rằng “tôi trầm cảm” nhưng để xử lý điều đó thì phải điều chỉnh mục tiêu cho phù hợp, xử lý những niềm tin có thể là vô lý của khách hàng, và điều chỉnh những vấn đề liên quan đến các mối quan hệ,…

Tôi rất tán đồng và cũng theo hướng được ủng hộ bởi khá nhiều chuyên gia trên toàn thế giới khi họ cảnh báo rằng không có lợi trong việc nhanh chóng gọi tên một vấn đề mà khách hàng gặp phải và chỉ chăm chăm vào đó mà thôi. Bất kỳ chuyên gia nào cũng có thể bị mắc kẹt nếu chỉ chú tâm đến tên của vấn đề. DSM đã xuất hiện từ những mong muốn của các bác sỹ tâm thần về “một ngôn ngữ thống nhất” trong các vấn đề của bệnh nhân, nhằm tiện lợi hơn cho việc trao đổi mà đến nay thì có vẻ nó đã đi quá xa. Rất nhiều người không có chuyên môn hoặc có chút ít chuyên môn trong lĩnh vực tâm thần cũng có thể tiếp cận được DSM và đưa ra những kết luận theo lối chẩn đoán người khác. Và tôi cho rằng điều đó là không có lợi, thậm chí là gây khó khăn cho quá trình tìm hướng xử lý những khó khăn tâm lý của bản thân hay của khách hàng.

Cần nhấn mạnh rằng sức khỏe tâm thần của con người không chỉ là có bệnh hay không có bệnh, mà đó là một phổ hay nói cách khác là một trục với ít nhất là 04 trạng thái được mô tả bởi Keyes:

  1. Tình trạng khỏe mạnh (healthy) khi cá nhân xử lý các vấn đề của cuộc sống một cách thông suốt;
  2. Tình trạng có phản ứng (reacting) khi cá nhân gặp vấn đề khiến phải huy động nhiều nguồn lực mới có thể giải quyết được vấn đề;
  3. Tình trạng tổn thương (injuring) khi cá nhân suy giảm chức năng và mỏi mệt để xử lý các vấn đề;
  4. Tình trạng bệnh (illness) khi cá nhân gặp phải những vấn đề và để nó phát triển thành các triệu chứng lâm sàng rõ ràng.
Nguồn ảnh: dconnect.co.nz

Một cá nhân được chẩn đoán theo các tiêu chuẩn đã được mô tả trong DSM thường là ở tình trạng thứ 4 – tình trạng bệnh lý và nghiêm trọng. Có khá nhiều người… “bị” chẩn đoán khi ở trong tình trạng thứ 3 và những người khác bị… “ép” vào DSM khi chỉ ở tình trạng thứ 2.

Nhiều người có thể có niềm tin hoặc để cho mình bị dẫn dắt hay định hướng bởi DSM trong quá trình làm việc với khách hàng nếu việc học hành và trải nghiệm làm việc dưới sự giám sát không tới nơi tới chốn. Thật ra cũng phải nói thẳng rằng có thể có những chuyên viên tin rằng mình là một người tài giỏi khi ngay lập tức gọi được tên một vấn đề theo ngôn ngữ của DSM. Tuy nhiên, như tôi đã nói đi nói lại rất nhiều lần rằng một chuyên viên tài giỏi theo cách đó chưa thể hữu ích cho khách hàng, bởi yếu tố quan trọng (nhất) để hỗ trợ tâm lý cho người khác là ở mối quan hệ được tạo ra trong quá trình làm việc, không phải ở chỗ định được bệnh.

Có ít nhất hai cách tiếp cận với những khó khăn của khách hàng:

  • Cách thứ nhất đã tồn tại từ rất lâu và đang là định hướng làm việc của rất nhiều bác sỹ y khoa và những người làm tâm lý theo hướng y khoa, gọi đơn giản là theo hướng “bệnh lý hóa” (pathologizing) hay theo mô hình y khoa (medical model). Ở đó, các chuyên gia tin rằng một người không khỏe mạnh thì là người bệnh và trong đầu sẽ nhanh chóng kết nối với các tiêu chuẩn được nêu trong DSM.
  • Cách thứ hai đang thịnh hành hiện nay – không chỉ trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần mà cả y khoa tích cực – là nhìn toàn bộ bối cảnh sống cũng như những tương quan của khách hàng để xem xét và giúp khách hàng tự đánh giá về những khó khăn của bản thân. (Đương nhiên không tính đến những người suy giảm nghiêm trọng về chức năng nhận thức hay tư duy.) Đây là hướng “phi bệnh lý hóa” (nonpathologizing) hay có thể gọi là theo mô hình sức khỏe cộng đồng, hay mô hình xã hội về sức khỏe (social model).

Vì vậy, nếu bạn tập trung vào bệnh lý tâm thần thì cần học hỏi kỹ lưỡng về DSM cũng như tiến trình chẩn đoán theo DSM. Nhưng nếu bạn không theo định hướng bệnh lý hóa thì không nên và không cần tốn thời gian cho DSM, bất chấp những lý do mà theo cá nhân tôi là ngụy biện như “để hiểu vấn đề của khách hàng” hay “để biết họ bị cái gì”… Điều này không nên là vì nếu học hành không đủ sâu (kiểu một học phần về tâm bệnh và DSM) sẽ khiến bạn dễ dàng nhìn các vấn đề của khách hàng theo hướng bệnh lý hóa. Và điều này không cần là bởi để hỗ trợ một khách hàng gặp khó khăn về tâm lý thì không nhất thiết phải gọi tên vấn đề là một bệnh lý, mà đó là một câu chuyện của họ.

Đến đây, tôi nghĩ rằng mỗi chuyên gia phải xác nhận bản sắc của riêng mình. Nếu bạn là một người được đào tạo để trở thành một nhà tâm lý lâm sàng (clinical psychologist), bạn có thể định hướng làm việc với những người ở tình trạng bệnh lý. Nếu bạn được đào tạo để trở thành một nhà tâm lý học tham vấn (counseling psychologist), bạn có thể định hướng làm việc trên một dải rộng hơn về sức khỏe tâm thần của con người, bao gồm cả việc hỗ trợ một người tăng khả năng sống hạnh phúc và cả làm việc với những người có bệnh lý tâm thần. Nhưng nếu bạn được đào tạo để thành một nhà tham vấn tâm lý (counselor), bạn chỉ tập trung vào việc hỗ trợ cho những khách hàng gặp khó khăn trong đời sống của họ như các vấn đề liên quan đến mối quan hệ cha mẹ con cái hay vợ chồng, xử lý căng thẳng, định hướng cuộc đời hay sự nghiệp, và những bận tâm về bản thân là ai,…

Điều cực kỳ quan trọng cần nhớ là không phải bạn học về tâm bệnh hay có biểu biết về DSM thì bạn giỏi hơn những người không theo hoặc không biết lối đó. Định hướng của WELink là huấn luyện những người có khả năng tham vấn, không phải đào tạo một nhà tâm lý học theo bất kỳ cách hiểu nào. Đương nhiên sau khi hoặc song song với việc được huấn luyện tại WELink, bạn hoàn toàn có thể chuyển sang hướng tâm lý lâm sàng hoặc trở thành một nhà tâm lý khi bạn theo đuổi một chương trình sau đại học về tâm lý.

Ngô Minh Uy.