THAM VẤN TÂM LÝ VÀ NHỮNG NGÀNH NGHỀ DỄ GÂY LẦM TƯỞNG
Suy đoán rằng trong số chúng ta ai cũng đã từng nghe nói về các chuyên gia tâm lý, trong số đó có những người làm tham vấn (counseling), nhưng thật sự chưa rõ cái nghề đó ra làm sao. Cần phân biệt người làm tham vấn tâm lý không phải là một “bác sỹ tâm lý” – nhân tiện thì trên đời này không có cái gọi là bác sỹ tâm lý. Làm hỗ trợ tâm lý có thể chia hai cách căn bản sau:
- Người làm lâm sàng, chuyên chẩn đoán và cung cấp liệu pháp cho những ai gặp các vấn đề khó khăn tâm lý (thường các chuyên gia lâm sàng sẽ chẩn đoán dựa vào các tiêu chuẩn trong sổ tay chẩn đoán DSM như các bác sỹ tâm thần);
- Người làm tham vấn, chuyên làm việc với những người gặp khó khăn tâm lý nhưng không theo lối bệnh lý hóa, thường là theo hướng đối thoại về các diễn tiến đã và đang xảy ra.
Đôi khi chúng ta có hiểu lầm rằng tham vấn và tư vấn là giống nhau, thật ra trong lĩnh vực tâm lý thì đây là hai ngành khác biệt, một ngành là tham vấn như đã nói ở trên, ngành còn lại là việc áp dụng các kiến thức và kỹ năng để đáng giá, phân tích, và đề xuất những hành động thay đổi cho khách hàng. Trong khi đó, tham vấn không chú tâm phân tích câu chuyện của khách hàng mà phản ánh lại câu chuyện và cảm xúc của họ, tham vấn không đề xuất hành động mà hỗ trợ qua đối thoại để khách hàng có hành động phù hợp cho chính họ…
Mỗi lĩnh vực đều có những đóng góp khác nhau cho con người, trong khi ngành lâm sàng chú tâm đến bệnh lý tâm thần của con người thì tham vấn chú tâm đến các khó khăn nhưng không theo hướng nhìn bệnh lý (dường như việc can thiệp thì tương đồng khá nhiều trong việc áp dụng các kỹ năng và liệu pháp); và trong khi tư vấn là công việc đòi hỏi chuyên gia phải phân tích và đề xuất được hành động cho khách hàng thì tham vấn lại đòi hỏi phải điêu luyện trong khả năng đối thoại theo hướng mở đường (facilitating) để khách hàng có hành động làm chủ lại bản thân họ.
Vào năm 2008, tôi có một bài viết có tên “Điều kiện để phát triển nghề nghiệp tham vấn tâm lý” dựa vào những trình bày của tiến sỹ Byrne năm 1995 trong cuốn sách “Becoming a master counselor: Introduction to the profession” (Trở thành một chuyên viên tham vấn: Giới thiệu nghề nghiệp) – nhà xuất bản Brooks/Cole, trong đó nêu ra những yếu tố cần thiết (cần phải có) cho một ngành nghề có tên tham vấn tâm lý, bao gồm:
- Một hệ thống lý thuyết về tham vấn tâm lý;
- Xã hội nhìn nhận người hành nghề có “quyền chuyên môn”;
- Có một tổ chức nghề nghiệp mà ở đó có những người lãnh đạo có đủ hiểu biết;
- Có quy chế về đạo đức hành nghề;
- Có văn hóa tổ chức; và
- Từng thành viên có đủ quyền tự chủ.
(Xin tham khảo ở đây: https://thamvantamly.wordpress.com/2008/08/27/dkpt-nghe-2.) Bài viết này được trình bày như một bài thuyết trình đề dẫn cho cuộc Hội ngộ những người làm tham vấn và trị liệu tâm lý tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2008.
Tính ra đã gần 15 năm kể từ thời gian ấy, và tại Việt Nam hiện đã có những phát triển nhiều hơn và đa dạng hơn với những người làm tham vấn và trị liệu tâm lý. Trong bối cảnh đó, chúng ta thấy xuất hiện ngày càng nhiều những tổ chức hoặc cá nhân tuyên bố họ làm tham vấn và trị liệu tâm lý nhưng dường như chúng ta đang ở trong một điều kiện mà có thể gọi là “hổ lốn”, không biết cái nào là đúng tham vấn và trị liệu tâm lý hay cái nào là không phải. Lúc này đây, tôi thấy mình được thôi thúc để viết về chuyện này: tham vấn và trị liệu tâm lý là một nghề nghiệp dựa vào chứng cứ khoa học chứ không phải là một nghề mà ai có kinh nghiệm sống thì đều có thể làm được, ngay cả với những người có khả năng tự học hỏi. Bởi vì đó là một nghề nghiệp (professional) nên có những tiêu chuẩn riêng cho nghề, hẳn nhiên trong bối cảnh chưa có Hiệp hội nghề nghiệp đủ đại diện cho ngành nghề này thì khó lòng cho bất kỳ một sự phân loại nào. Tuy vậy, tôi tin rằng chúng ta có thể dựa vào những điều kiện cần để nhận biết thế nào là người hành nghề tham vấn và trị liệu tâm lý có chuyên môn và có đạo đức.
1. Hệ thống lý thuyết của tham vấn tâm lý.
Bao gồm các lý thuyết về tâm lý con người cùng những kết quả nghiên cứu mới nhất hiện có, và những lý thuyết về các trường phái/ tiếp cận trong tham vấn và trị liệu hiện đại. Những lý thuyết này hầu hết được đào tạo trong trường đại học có ngành Tâm lý học bậc Cử nhân và Thạc sỹ tâm lý (chuyên về tham vấn và trị liệu tâm lý). Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, người hành nghề có thể học từ các khóa học ngoài đại học. Hẳn là khó khăn nhưng chúng ta đành phải chấp nhận việc có thể bổ sung ngoài đại học khi mà ở trường đại học chưa đảm bảo được việc đào tạo có đủ tính cập nhật, nhất là với những nghiên cứu mới hiện đang có.
2. Hệ thống kỹ năng thuần thục.
Tôi gọi hệ thống kỹ năng này là “bộ đồ nghề” của người làm tham vấn và trị liệu tâm lý. Hệ thống này chính yếu bao gồm:
- Những kỹ năng tiếp nhận và cung cấp một môi trường an toàn và tin tưởng cho thân chủ;
- Những kỹ năng lắng nghe và phản ánh;
- Những kỹ năng đặt câu hỏi và quan sát thân chủ;
- Những kỹ năng liên quan đến phỏng vấn và xác định vấn đề thân chủ đang gặp phải; và
- Những kỹ năng tạo ảnh hưởng trên thân chủ.
3. Hiệp hội nghề nghiệp.
Dù hiện tại ở Việt Nam chưa chính thức có một tổ chức nào hoạt động như một Hiệp hội nghề nghiệp, nhưng tôi tin rằng bất kỳ ai được đào tạo đúng về tham vấn và trị liệu tâm lý đều có thể đang theo một Hiệp hội nghề nghiệp nào đó trên thế giới, thường là gắn với trường đại học nơi mình được đào tạo. Ở WELink, chúng tôi hầu như giữ đúng tinh thần của tham vấn và trị liệu tâm lý theo Hiệp hội tham vấn Hoa Kỳ (ACA – American Counseling Association). Trong bất kỳ Hiệp hội nghề nghiệp nào của tham vấn cũng đều kèm theo những hướng dẫn để tuân thủ quy chế đạo đức hành nghề của Hiệp hội đó, điều mà tôi nhìn thấy ở ACA như một kiểu mẫu. Như tôi vừa đề cập, chúng ta chấp nhận một tình trạng chưa có Hiệp hội nghề nghiệp tham vấn và trị liệu ở Việt Nam (dù đã có Hiệp hội Tâm lý trị liệu Việt Nam nhưng theo cá nhân tôi thì chưa có những hoạt động giám sát và hỗ trợ cho người hành nghề như mong đợi), cho nên chúng ta có thể “sinh hoạt” theo tổ chức nghề nghiệp của mình, chẳng hạn tôi có biết những tổ chức cụ thể ở Saigon như câu lạc bộ Trăng Non, chi hội Hoa Súng, chi hội Nụ cười trái tim, hay trung tâm WELink,… Những tổ chức này thường tổ chức sinh hoạt và giám sát chuyên môn cụ thể cho từng thành viên. Trình độ chuyên môn và các tiêu chuẩn đánh giá người đủ trình độ chuyên môn thường đi theo định hướng của những người lãnh đạo của từng tổ chức này.
4. Hoạt động thực hành nghề nghiệp và giám sát.
Theo tôi biết, hiện hầu hết các trường đại học có cho sinh viên tham gia thực hành tại các tổ chức nghề nghiệp liên quan, tuy nhiên những người giám sát tại các tổ chức nghề nghiệp đó khá là mơ hồ, thậm chí có những tổ chức mà người giám sát và hướng dẫn chuyên môn không làm đúng tinh thần của tham vấn và trị liệu tâm lý. Có rất nhiều tổ chức như bệnh viện tâm thần hoặc những cơ sở làm việc theo hướng chữa bệnh thường hướng dẫn sinh viên chẩn đoán dựa vào các tiêu chuẩn tâm bệnh (DSM hoặc ICD) và hướng dẫn cách chữa trị tâm bệnh bằng liệu pháp tâm lý như một phương án hỗ trợ cho việc dùng thuốc. Lối làm việc theo hướng y khoa này về bản chất không phải là lối tiếp cận của tham vấn và trị liệu tâm lý hiện đại.
Trên đây là 04 tiêu chuẩn tối thiểu và cần thiết để một người có thể tuyên bố mình làm tham vấn và trị liệu tâm lý, còn lại có những cá nhân hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ tham vấn và trị liệu tâm lý không đúng chuyên môn của nghề nghiệp này. Một số tổ chức mà tôi được biết và tôi sẽ nói sau đây:
– Tổ chức gồm những thành viên học “Master NLP” với các tiêu chuẩn của một người làm NLP (lập trình ngôn ngữ tư duy) nhưng gọi mình là làm “tâm lý trị liệu”. Về cơ bản NLP chỉ là một kỹ thuật có trong tâm lý học nhưng nó không được xem là một liệu pháp có chứng cứ khoa học trong tham vấn và trị liệu tâm lý. Hẳn nhiên những người học NLP đồng thời có thể tham gia một số khóa học ngắn về một liệu pháp tâm lý nào đó có thể kết hợp với NLP, nhưng chính yếu trong thực hành là những người này thường nắm quyền dẫn dắt buổi làm việc hay có quyền “chỉ bảo” cho thân chủ một lối sống nào đó. Điều này có thể đâu đó có thể giúp được một thân chủ khi họ hoang mang trong cuộc sống và cần một định hướng từ người khác, nhưng nó không được xem là tham vấn và trị liệu tâm lý.
– Tổ chức cung cấp dịch vụ thiền và yoga nhưng gọi mình là làm “tâm lý trị liệu”. Như tôi đã nói về NLP, thiền và yoga là một liệu pháp theo hướng “tự nhiên” và có thể giúp đỡ được người khác khi họ có những lo âu hoặc trầm cảm, nhưng chắc chắn một người chỉ biết thiền và yoga thì không phải là người làm tham vấn và trị liệu tâm lý. Trong xu hướng này, có nhiều tổ chức kết hợp với những kiến thức hiện đại trong việc dẫn dắt người khác và thấy có thể làm cho học viên (thân chủ) của họ sống khỏe mạnh hơn nên rất dễ nhầm lẫn là mình cũng làm tham vấn và trị liệu tâm lý.
– Một số tổ chức hoặc cá nhân có chuyên môn là bác sỹ tâm thần hoặc làm việc theo lối tiếp cận của bác sỹ tâm thần, kết hợp với việc kê toa thuốc bằng những buổi nói chuyện và hướng dẫn bệnh nhân một lối sống khỏe mạnh cũng gọi mình là làm tham vấn và trị liệu tâm lý, nhưng về bản chất chúng ta cần phân biệt việc đưa ra những hướng dẫn cho một lối sống khỏe mạnh không phải là làm tham vấn và trị liệu tâm lý.
– Khá nhiều tổ chức hoặc cá nhân hiện nay có học về “life coach” với lối nói chuyện tương tự với tham vấn tâm lý cũng gọi mình là làm tham vấn và trị liệu tâm lý, nhưng chúng ta cần phân biệt tham vấn tâm lý có những khác biệt đáng kể với làm coaching (coaching: khai vấn có hướng tập trung vào những thành quả (achievement) của thân chủ, với những điều kiện cung cấp dịch vụ không quá nghiêm ngặt như tham vấn và thường không giải quyết những vướng mắc trong tâm lý của thân chủ).
– Cũng phải kể đến những tổ chức hay cá nhân “mạo danh” là người làm tham vấn và trị liệu tâm lý nhưng chỉ dựa vào kinh nghiệm sống hay những hiểu biết rộng của bản thân về cuộc sống. Và nguy hiểm hơn là kết hợp với những phương cách không được công nhận về tính khoa học như: thần số học, sinh trắc vân tay, giáo dục… để hướng dẫn thân chủ của mình. Sở dĩ họ mạnh dạn trong việc gọi mình là tham vấn và trị liệu tâm lý là bởi có một niềm tin sai lệnh rằng “miễn giúp được thân chủ là được” mà không màng đến các tiêu chuẩn khoa học và nghề nghiệp của lĩnh vực này.
Tham vấn tâm lý là lĩnh vực đang có định hướng khẳng định đặc tính nghề nghiệp của mình, thường phát triển nhiều ở Hoa Kỳ và các nước Tây phương, gần đây có những quốc gia Á châu cũng đi đến việc thống nhất định nghĩa về tham vấn và trị liệu tham vấn cho đúng tinh thần và bản chất nghề nghiệp của nó. Tại WELink, chúng tôi định hướng và khuyến khích các thành viên tuân giữ tinh thần của tham vấn tâm lý theo định nghĩa 20/20 được khởi xướng bởi ACA và các tổ chức lớn về tham vấn tâm lý. Theo đó, định nghĩa này phát biểu: “Tham vấn tâm lý là một mối quan hệ chuyên nghiệp mà thông qua đó, người làm tham vấn giúp cho thân chủ của mình là các cá nhân, nhóm, và gia đình đi tới việc lấy lại quyền làm chủ cho bản thân, đạt tới những thành quả về sức khỏe, sức khỏe tâm thần, giáo dục, hay nghề nghiệp.”.
Về tính khoa học trong nghề tham vấn và trị liệu tâm lý, chúng ta cần phải lưu tâm đến những yêu cầu của nguyên tắc dựa vào chứng cứ (EBP – Evidence Based Practice), nguyên tắc này dựa vào 03 tiêu chí:
- Những kết quả nghiên cứu mới nhất hiện có. Những nghiên cứu mới nhất hiện có hiện này hầu như được xuất bản bằng tiếng Anh (tiếng Pháp, tiếng Trung) mà có khá ít các nghiên cứu có thể dùng bằng tiếng Việt, được nghiên cứu bởi người Việt. Đó là vấn đề ngôn ngữ để tiếp cận với các nghiên cứu mới nhất, vấn đề lớn hơn là thói quen cởi mở tiếp nhận của bản thân đối với những kiến thức nghiên cứu mới. Một người bị đóng kín bởi những gì mình đã biết thường sẽ dễ bị rơi vào chuyện từ chối tiếp nhận những kết quả nghiên cứu mới được cập nhật thường xuyên mỗi ngày.
- Trình độ chuyên môn vững vàng của người làm tham vấn và trị liệu tâm lý. Trình độ chuyên môn bao gồm 04 tiêu chuẩn cần thiết mà tôi trình bày trong đoạn đầu: hệ thống lý thuyết vững chắc, hệ thống kỹ năng thuần thục, việc thực hành có giám sát chuyên môn từ người có trình độ trong ngành nghề, và tham gia một tổ chức có tiêu chuẩn hành nghề và đánh giá trình độ chuyên môn của bản thân. Trình độ chuyên môn thường chỉ được hình thành bằng việc tham gia một khóa hướng dẫn chuyên sâu như trình độ Thạc sỹ về tham vấn và trị liệu trong đại học hoặc từ các tổ chức ngoài đại học như WELink.
- Những đặc điểm cụ thể của thân chủ. Đây là yếu tố có thể gây khó khăn cho người hành nghề Việt Nam, bởi có những hướng dẫn về lối sống theo văn hóa Việt Nam đi ngược lại với những hiểu biết về một con người khỏe mạnh theo lý luận của tâm lý học hiện thời. Người hành nghề phải tìm cách thích ứng với văn hóa Việt Nam đồng thời với việc giúp đỡ thân chủ nhận ra các tiêu chuẩn cho một người khỏe mạnh về sức khỏe tâm thần.
Tôi muốn nhắn gởi đến những anh chị đang… hành nghề, hãy tham gia một chương trình đào tạo và thực hành đủ trước khi vào việc, hãy nghĩ đến tiêu chuẩn “chuyên môn” như là một yêu cầu trong tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp tham vấn tâm lý.
LỢI ÍCH CỦA THAM VẤN TÂM LÝ CHO CUỘC SỐNG
Sau đây là bốn lợi ích của tham vấn được mô tả bởi trang Mindset First mà bản thân tôi muốn nhắc lại:
1. Được nói ra những suy nghĩ bí mật và thầm kín của mình.
Thật vậy, các mối quan hệ trong gia đình hay bạn bè khó có thể là nơi an toàn để khách hàng có thể nói “tất tần tật”, do vậy việc trả tiền để đến phòng tham vấn là lựa chọn tốt.
Cần lưu ý, người làm tham vấn phải đảm bảo an toàn cho khách hàng qua thái độ lắng nghe và đảm bảo tính bảo mật riêng tư của khách hàng. Nếu quý vị thấy đâu đó thông tin của mình tràn lên mặt báo hay facebook thì cần lên tiếng với chuyên viên của mình, có khi họ là những người chưa được huấn luyện đủ.
2. Chính đáng và hợp lý khi nói về chuyện của bản thân với một người được đào tạo.
Ý này tôi nhấn mạnh, một người là chuyên viên tham vấn cần quá trình đào luyện từ căn bản đến nâng cao và cọ xát qua thời gian thực hành giám sát.
Tính ra hầu hết các đại học ở Việt Nam đều thiếu quá trình cho sinh viên cọ xát với thực tế, và đâu đó quá trình rèn luyện kỹ năng cũng chưa được chú tâm đủ. Về tinh huống này, tôi mạnh dạn giới thiệu chương trình khá… dài hơi của WELink với tổng cộng 12 tháng cho đào tạo căn bản về khả năng thực hiện các kỹ năng tham vấn và liệu pháp tâm lý, tham khảo tại: https://welinkvn.org/we-train/tham-van-tam-ly-can-ban. Sau đó là một năm thực hành giám sát cho những ai muốn thật sự hành nghề.
3. Được giáo dục và giải thích các vấn đề của bản thân.
Trong bài phát biểu về “ứng dụng tâm lý trị liệu của tây phương vào Việt Nam” ở Hội thảo Tâm lý học ứng dụng Thế giới hồi ở Hà Nội, tôi có chỉ ra có khá nhiều trường hợp ở Việt Nam gặp các khó khăn tâm lý mà theo quan sát của tôi và vì họ “thiếu hiểu biết về con người, bao gồm bản thân và người khác”. Việc tham gia vào tiến trình tham vấn có thể là cơ hội để khách hàng được chuyên viên bổ sung những hiểu biết.
Có rất nhiều người tự tuyên bố mình làm… tham vấn nhưng không nắm vững các bằng chứng khoa học nên đã không giúp được cho khách hàng và làm mất… hình ảnh của ngành tham vấn tâm lý vừa chớm có ở Việt Nam. Làm tham vấn chuyên nghiệp hay đúng đắn là phải dựa vào chứng cứ và nền tảng khoa học (evidence-based practice).
4. Được quan tâm.
Người làm tham vấn được huấn luyện để trở nên nhạy cảm với những đau khổ và ưu tư của con người, nên nhìn chung các khách hàng sẽ thấy mình được quan tâm, được lắng nghe, và được nâng đỡ khi tham gia vào tiến trình trị liệu.
Nói chung, thật cần thiết để tìm hiểu về người làm tham vấn/ chuyên viên trước khi lấy lịch hẹn, tôi nhấn mạnh quý vị phải thật sự cân nhắc các chuyên viên với các bài… quảng bá bản thân hoành tráng. Thời nay người ta quảng bá dịch vụ trợ giúp tâm lý như đang bán một món hàng nên cần cẩn thận tìm hiểu trước khi bắt đầu. Không phải giáo sư hay tiến sỹ thì sẽ làm tham vấn tốt, bởi quan trọng là người đó có được rèn luyện về tham vấn hay không.

