THAM VẤN TÂM LÝ LÀ GÌ?

Nhiều người có thể tin rằng nếu mình bị bệnh sẽ có bác sỹ lo, nhưng trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần tình hình có thể khác hơn. Một người gặp trở ngại hay khó khăn liên quan đến sức khỏe tâm thần không nhất thiết họ phải có bệnh, điểm khác biệt đó cần được nhận diện để có thái độ đúng với cuộc sống của mình. Thật ra ngay cả trong lĩnh vực sức khỏe thể lý ngày nay cũng đề cập đến những người sẽ có khả năng tiến triển tích cực nếu họ có thể duy trì tinh thần chủ động và an vui khi bệnh tật. Sự “được lành bệnh” hoàn toàn không chỉ tùy thuộc vào bác sỹ và thuốc mà quan trọng hơn còn tùy thuộc vào tinh thần và thái độ của người bệnh với chính bệnh tật của họ.

Quý vị có thể thấy cách mà Keyes mô tả về sức khỏe tâm thần mang lại cho chúng ta một hiểu biết mở mang hơn, theo ông sức khỏe tâm thần là một trục (continuum) đi từ xấu nhất là “bệnh lý tâm thần” (những vấn đề được mô tả trong DSM hay ICD là ví dụ); Tiếp sau đó và có ranh giới mong manh với bệnh lý là tình trạng “tổn thương” (cá nhân cần như tê liệt và giảm chức năng nhiều); Mức thứ ba là “có phản ứng” (một tình trạng cơ thể tâm lý phải huy động nguồn lực để đối diện và giải quyết vấn đề); Sau cùng và tốt nhất là tình trạng “khỏe mạnh” hay “an lạc” (cá nhân xử lý các vấn đề tốt).

Theo cách diễn tả về sức khỏe tâm thần ở trên, chúng ta có thể thấy việc nhận diện được những khó khăn mình đang gặp đang ở mức nào để tìm kiếm một sự trợ giúp hữu hiệu. Theo “truyền thống”, nếu bạn gặp bác sỹ thì kết quả sẽ là có một tên bệnh được chẩn đoán cho bạn, và như vậy quyền lực của bác sỹ y khoa là rất lớn trong việc “định đoạt” đời bạn. Cũng tương tự, khi bạn gặp một chuyên gia tâm lý làm việc theo mô hình y khoa họ cũng có khuynh hướng tìm kiếm xem bạn bị bệnh gì (một định danh bệnh tật cho bạn). Thái độ “bệnh lý hóa” đó vô tình có thể nhốt chặt bạn vô những tên bệnh và khiến bạn có cảm giác yên tâm hơn khi biết mình bị bệnh gì. Và hầu hết các chuyên gia theo hướng này sẽ tập trung phân tích và cho bạn một cảm giác họ thật tài giỏi khi nói ra bạn bị bệnh gì. Điều này là mấu chốt để bạn yên tâm nhờ vào bác sỹ hay chuyên gia tâm lý lâm sàng.

Tham vấn tâm lý (counseling) có một cách tiếp cận khác hơn khi nhìn khách hàng không phải theo hướng bệnh lý hóa, mà cách của họ là nhìn khách hàng theo hướng “phi bệnh lý hóa” (nghĩa là không cốt tìm một tên bệnh để gắn cho bạn). Chuyên viên tham vấn chú tâm vào bối cảnh và những phản ứng của bạn trong bối cảnh đó, có thể là “trật chức năng” chẳng hạn. Chuyên viên tham vấn cũng sẽ duy trì thái độ “không biết” (not knowing) khi làm việc với khách hàng bởi cho tới tận cùng thì chính khách hàng mới là người biết rõ họ là ai và gặp chuyện gì (chuyên gia làm việc là để giúp khách hàng tăng thêm khả năng nhận biết chính bản thân khách hàng, họ không chữa trị mà tạo ra cơ hội cho khách hàng). Một chuyên gia tham vấn sẽ không chữa trị (treatment) mà tạo thuận lợi (facilitating) cho khách hàng.

Đó là cơ sở mà từ đó, Carl Rogers nhấn mạnh đến mối quan hệ với khách hàng và tình trạng “hòa hợp” (congruence) của chính người làm tham vấn. Để có một mối quan hệ tin tưởng và an toàn với khách hàng, tiến trình tham vấn phải chú tâm đến ba trụ cột là: Thấu cảm với khách hàng; Sự hòa hợp và thống nhất của người làm tham vấn; và Sự chấp nhận khách hàng vô điều kiện. Bởi lẽ đó, ở WELink chúng tôi huấn luyện người làm tham vấn và rất chú tâm đến việc trở nên khỏe mạnh của chính người làm, thật sự các kỹ thuật là quan trọng nhưng vẫn phải ở đằng sau việc thực hành ba trụ cột vừa đề cập. Kinh nghiệm bản thân là càng thực hành tham vấn, tôi càng thấy mình tăng lên sự khỏe mạnh của chính mình và thật sự khiêm tốn với câu chuyện và những trải nghiệm của chính khách hàng. Thái độ khiêm tốn đó giúp bản thân tôi tăng lên cơ hội để hiểu và chấp nhận khách hàng.

Ngày nay, vẫn còn một số lối hiểu nhập nhằng về khái niệm “tham vấn”. Theo đó, từ tham vấn có hai cách hiểu khác nhau mà tôi sẽ đề cập dưới đây. Theo quan sát thì có rất nhiều người ở Việt Nam và trên thế giới dùng từ tham vấn theo cách hiểu thứ nhất, xem nó là thay thế cho tâm lý trị liệu. Hai cách hiểu được mô tả sau đây:

  1. Một: tham vấn bằng cách nào đó được là hiểu tương đương với tâm lý trị liệu (có khả năng là nhiều người né tránh từ trị liệu mà dùng chữ tham vấn nghe thấy nhẹ hơn), và như vậy có ít nhất bốn (04) cách tiếp cận khác nhau: 1. Theo hướng phân tâm; 2. Theo hướng hành vi (và nhận thức); 3. Theo hướng nhân văn; và 4. Theo hướng đa văn hóa và công bằng xã hội.
  2. Hai: tham vấn được hiểu là cách tiếp cận nhân văn hay cụ thể là “con người trọng tâm” do Carl Rogers khởi xướng. Lối này khá khác biệt nếu không muốn nói là “đối ngược” hay “chống lại” các quan điểm trị liệu kiểu Phân tâm hay Hành vi. Ở WELink, chúng tôi hướng mọi hoạt động theo hướng này: tôn trọng sự tự quyết và chú tâm đến tiềm năng của khách hàng.

Chúng ta cũng có thể tìm hiểu về lịch sử hình thành tham vấn và tiến trình định danh nghề nghiệp để tăng sự hiểu biết về khác biệt này. Chú ý rằng đã có một nỗ lực lớn lao từ 31 tổ chức về tham vấn từ năm 2005 đến 2013 theo khởi xướng của Hiệp hội tham vấn Hoa Kỳ ACA khi đã họp nhóm và tuyên bố về tầm nhìn của tương lai tham vấn tâm lý như sau: “Tham vấn là một mối quan hệ nghề nghiệp trao quyền cho các cá nhân, gia đình và nhóm khác nhau để hoàn thành các mục tiêu về sức khỏe tâm thần, sự an lac, giáo dục và nghề nghiệp.” (Kaplan, Tarvydas, & Gladding, 2014, trang 368). Đây cũng được xem là “định nghĩa đồng thuận” nhất về tham vấn tâm lý hiện nay.

Xu hướng phát triển định danh nghề tham vấn càng ngày càng hướng rõ ràng đến các điểm mạnh và tiềm năng của khách hàng, nhằm mục tiêu hướng tới sự an lạc của con người nói chung. Theo đó việc đào tạo một người có khả năng làm việc tham vấn không đồng nhất với việc đào tạo các chuyên gia tâm lý, hay nói cách khác, người hành nghề tham vấn không nhất thiết phải là một người có bằng cấp trong ngành tâm lý học (nhưng chắc chắn muốn làm tham vấn phải có nền tảng kiến thức về tâm lý học).

THAM VẤN VÀ TÂM LÝ TRỊ LIỆU TỪ LỊCH SỬ

Ngắn gọn lại thì lịch sử phát triển tâm lý trị liệu (psychotherapy) đã có khởi nguồn và mang dấu ấn từ khi S. Freud bắt đầu công bố những ghi chép của mình, tiếp nối sau đó là sự phát triển mạnh mẽ của nhóm Phân tâm học. Một trường phái khác gần như chỉ bận tâm đến việc điều chỉnh những hành vi sai lỗi và hướng tới tập luyện hành vi đúng, cũng nổi bật trong những năm 1950s. Sau này, trường phái Nhân văn tập trung vào tiềm năng và tính tự quyết của cá nhân của C. Rogers lớn mạnh trong triết lý của tâm lý trị liệu, nhấn mạnh vào mối quan hệ với khách hàng, gần như là một “phản ứng” với lối tiếp cận đang thịnh hành thời đó là Phân tâm và Hành vi. Khởi đi từ đó, ngày nay tâm lý trị liệu đã và đang là một ngành nghề được theo đuổi bởi số lượng khổng lồ của các cá nhân từ nhiều quốc gia trên thế giới, mục tiêu của tâm lý trị liệu bằng nhiều cách thức khác nhau nhưng dường như đều muốn hỗ trợ và “chữa trị” cho những vấn đề mang tính bệnh lý tâm thần của con người.

Có một lịch sử phát triển khác hơn…

Trong khi đó, tham vấn tâm lý (counseling) có một lịch sử phát triển khác hơn khi liên quan đến: Một là sự chuyển động của trào lưu giáo dục cho mọi thành phần, nhất là để phục vụ cho ngành công nghiệp; Hai là việc hướng dẫn và định hướng nghề nghiệp cho người trẻ; và Ba là trào lưu hướng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần không chỉ là đặc quyền trong bệnh viện mà là các tổ chức ngoài cộng đồng. Trong bối cảnh đó, có thể cách tiếp cận trợ giúp và tạo thuận lợi của trường phái Nhân văn của C. Rogers kết hợp cùng với đặc tính hướng dẫn (guidance) trong định hướng nghề nghiệp và lối tiếp cận dựa vào cộng đồng (phi bệnh viện) đã tạo nên điểm khác biệt lớn lao giữa tham vấn tâm lý và tâm lý trị liệu truyền thống.

Tâm lý học lâm sàng là gì?

Tâm lý học lâm sàng (clinical) là ngành khoa học có khởi nguồn từ việc quan sát, đánh giá về những vấn đề bệnh lý tâm thần của con người, và có lịch sử khởi nguồn và phát triển từ cuối thế kỷ 19. Tâm lý lâm sàng phát triển dường như kèm theo đó là hướng tiếp cận “trò chuyện” của S. Freud để thúc đẩy sự thay đổi và khỏe mạnh của con người. Thật ra tâm lý học lâm sàng có lối đi khá tương tự với ngành tâm thần học, chỉ khác ở điểm hướng chữa trị là dùng tâm lý trị liệu như một phương cách thay cho hóa dược (thuốc). Nói cách khác tâm lý lâm sàng tiếp cận theo lối bệnh lý hóa (pathologizing) với các vấn đề bệnh lý nghiêm trọng trong đời sống tâm thần của con người, rất khác so với tiếp cận của tham vấn tâm lý theo hướng nhìn vào thế mạnh của khách hàng và phi bệnh lý hóa (nonpathologizing).

Ngày nay để nhận diện rõ ràng từng lĩnh vực là cần thiết và đều có cơ sở tuy nhiên do có nhiều điều trùng lặp hay tương tự nhau, nhất là trong thực hành nghề nghiệp nên đôi khi các lĩnh vực có thể được gọi tên thay thế nhau. Bối cảnh Việt Nam theo quan sát cá nhân dường như các khoa tâm lý học đang cho rằng: Một người có vấn đề về sức khỏe tâm thần thì cần biết họ bị cái gì (bệnh gì), từ đó các khoa đào tạo tâm lý lâm sàng (và dùng DSM làm nền tảng cho các chẩn đoán); Tiếp sau đó để xử lý các bệnh lý đã được chẩn đoán sẽ dùng các liệu pháp cụ thể, và đào tạo tâm lý trị liệu.

Cần nhớ, tâm lý trị liệu hay tham vấn tâm lý ngày này đều cần rèn luyện bộ công cụ gọi là “kỹ năng giao tiếp căn bản” (micro skills). Chính điểm giống nhau này khiến nhiều người bối rối. Thật may chúng ta có thể thấy sự khác biệt trong mục tiêu, trong khi tâm lý trị hướng tới việc dùng các liệu pháp để chữa trị cho các vấn đề được chẩn đoán bởi tâm lý lâm sàng, trong khi đó tham vấn tâm lý không dựa vào những chẩn đoán như vậy nên bản thân tham vấn không có tính “chữa trị” mà mang hơi hướng của việc “trợ giúp thông qua đối thoại” để giúp khách hàng nhận diện bản thân mình và quyết định hướng đi của chính mình.

Theo đó sẽ có sự khác nhau trong tiến trình làm việc. Tiến trình của tâm lý trị liệu là nghe thân chủ (hay bệnh nhân) trình bày vấn đề, tập trung tìm kiếm triệu chứng và dựa vào tiêu chuẩn (DSM hoặc ICD) để đưa ra một chẩn đoán, tùy theo bệnh lý được chẩn đoán sẽ áp dụng một hoặc nhiều hơn một liệu pháp tâm lý để chữa trị cho bệnh lý đó. Trong khi tiến trình của tham vấn tâm lý là nghe thân chủ (hay khách hàng) kể câu chuyện với sự thấu cảm và không phấn xét, định hình được những rắc rối của họ là từ đâu và chú tâm đến những thế mạnh và nguồn lực sẵn có của khách hàng, từ đó giúp khách hàng “kể lại” câu chuyện theo cách mới phù hợp và tích cực hơn, các liệu pháp tâm lý cũng được dùng tùy vào từng khách hàng và dựa vào bối cảnh của họ để giúp họ hướng tới tình trạng an lạc cho chính họ. Thoạt nhìn có thể thấy giống nhau nhưng về bản chất là khác biệt, trong khi tâm lý trị liệu là chữa trị cho một bệnh lý đã được chẩn đoán thì tham vấn tâm lý hướng dẫn và hỗ trợ khách hàng ra quyết định để sống khỏe mạnh và an lạc hơn.

So sánh giữa lĩnh vực tâm lý trị liệu theo truyền thống và tham vấn tâm lý

Sự khác và giống nhau giữa hai lĩnh vực tâm lý trị liệu theo truyền thống và tham vấn tâm lý có thể là khó nhận diện nhưng không phải là không thể phân biệt, đôi khi chỉ đơn giản là đọc và suy tư về định nghĩa:

Tâm lý trị liệu là hoạt động chữa trị các bệnh lý tâm lý hay tâm thần của con người tập trung vào liệu pháp nói (tâm lý) thay vì dùng thuốc.

Tham vấn tâm lý là một mối quan hệ nghề nghiệp mà thông qua đó giúp khách hàng tăng lên khả năng làm chủ bản thân giúp họ đạt được các mục tiêu về sức khỏe tâm thần, sự an lạc, giáo dục, và nghề nghiệp.

Trong thực hành nghề nghiệp, có vẻ như một người học tâm lý học đều có thể làm tham vấn nếu họ nắm giữ nguyên tắc lắng nghe với sự tôn trọng và thấu cảm với khách hàng, nhưng một người học tham vấn sẽ khó khăn hơn nhiều nếu họ hướng tới việc chẩn đoán và chữa bệnh cho một thân chủ/ bệnh nhân. Do vậy để hành nghề tham vấn, một người có thể không cần phải là người học tâm lý nhưng nếu theo hướng chữa trị bệnh tâm lý/ tâm thần thì nhất thiết phải học tâm lý với trình độ sau Đại học. Thực hành tham vấn tâm lý không cần những công cụ để chẩn đoán và không phân tích thân chủ, nhưng thực hành tâm lý trị liệu thì cần phải có khả năng và tuân thủ những nguyên tắc của chẩn đoán tâm lý (tâm lý học lâm sàng).

Dù vậy ở cả hai lĩnh vực, để việc thực hành đảm bảo hữu ích cho thân chủ/ khách hàng thì đều cần các tiêu chuẩn hành nghề và được quản lý bởi cơ quan/ tổ chức cấp chứng nhận. Bối cảnh Việt Nam hiện nay khá mơ hồ và không có cơ quan cấp phép nên chính yếu là dựa vào việc tự động tuân giữ các nguyên tắc và tiêu chuẩn đạo đức hành nghề. Chẳng hạn ở WELink, chúng tôi hướng các chuyên viên và học viên áp dụng bộ tiêu chuẩn của Hiệp hội Tham vấn Hoa Kỳ ACA. Tất cả hướng dẫn thực hành và các tiêu chuẩn hành nghề đều được chú tâm trong các khóa huấn luyện tham vấn tâm lý căn bản và được trao đổi trong các buổi giám sát hàng tuần ở WELink.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *