Chúng ta biết rằng tuổi thanh thiếu niên (14 đến 18 tuổi) là tuổi mà bất kỳ ai đều cũng sẽ thấy khó khăn khi bước vào và đi qua, dù ít hay nhiều thì cũng là khó khăn. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc bước qua tuổi này và “sống sót” là một thành công lớn trong cuộc đời của mỗi người. Đó là lý do khiến nhiều nhà tâm lý học đầu tư nghiên cứu và đưa ra những gợi ý hữu ích.

Cá nhân tôi vô cùng tán đồng quan điểm của nhà tâm lý học Steinberg khi ông cho rằng “thanh thiếu niên là tuổi của những cơ hội”. Quan điểm này đã gợi hứng cho rất nhiều chương trình bằng cách tăng đối thoại và tiếp cận thanh thiếu niên với sự cảm thông và hỗ trợ, hơn là gia tăng áp lực hay chú tâm chỉnh sửa.

Về não bộ, ngày nay chúng ta xác nhận rằng trẻ chỉ đạt được sự thuần thục của lý trí hay các chức năng điều hành của não (executive functional) sau tuổi 20s, nghĩa là đầu trưởng thành. Chức năng điều hành của não bao gồm các hoạt động phân tích, nhận biết, và ra quyết định. Đừng trách cứ và cũng thôi kỳ vọng một trẻ vào độ tuổi thanh thiếu niên phải ra các quyết định chắc chắn đúng, bởi vì mong đợi đó trật với sự phát triển của trẻ.

Một nghiên cứu mới đây của Jane Ogden và đồng nghiệp tại đại học Surrey (Anh quốc) đăng trên Cogent Psychology (bản online tháng 05/2024) tìm cách điều tra xem điều gì là quan trọng từ nhìn nhận của người “trong cuộc” khi đề nghị người tham gia hồi tưởng lại và đưa ra nhận định xem điều gì là quan trọng với chính họ cho sự phát triển khi bước vào tuổi thanh thiếu niên.

Tôi sẽ nói chi tiết về nghiên cứu đó ngay sau đây, trong khi đó quý vị có thể đọc nghiên cứu này ở đây: https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/23311908.2024.2352204.

Nghiên cứu này đặt trên quan điểm “con người nhận ra những gì là quan trọng khi họ đã đi qua trải nghiệm và nhìn lại”, một quan điểm theo hướng “hoài niệm”. Các tác giả chọn 42 sinh viên trong độ tuổi từ 20 đến 24 tuổi, cho họ xem lại những bức hình của chính họ thời thanh thiếu niên trong vòng 10 đến 20 phút và khuyến khích họ nói ra (suy nghĩ thành tiếng) những suy tư cũng như mong muốn của chính mình trong giai đoạn đó, tập trung vào những “bài học cụ thể” nhất.

Sau phân tích, nhóm nghiên cứu nhận thấy có hai chủ đề bao quát là HỌC CÁCH KIÊN NHẪN VÀ CHẤP NHẬN THAY ĐỔICHÚ Ý ĐẾN NHỮNG GÌ LÀ QUAN TRỌNG. Sau đây là ba lời khuyên như những bài học được rút ra:

1. Tạo một không gian an toàn.

An toàn cho chính bản thân thanh thiếu niên trong việc xác định và sống trong một không gian với sự ấm áp và thoải mái nhất, tránh tối đa việc chơi với hay tham gia vào những hoạt động mang nguy cơ. Đồng thời với việc chọn lựa không gian sống an toàn là khả năng xác lập ranh giới cá nhân để bản thân không bị buộc phải nghe theo hay làm theo những xúi giục xấu của bạn bè. Ranh giới cá nhân được hiểu theo nghĩa “biết điều mình làm và theo những điều mình muốn”, thay vì để bị “lấn át” bởi người khác.

Bối cảnh Việt Nam, tôi nghĩ đến hai việc quan trọng có thể cần cân nhắc bởi cha mẹ:

  • Một là để trẻ có được sự tự do để ra quyết định cho chính các em và học cách chịu trách nhiệm cho những quyết định của các em. Quyết định đúng là những bài học được rút ra và cải thiện từ những vấp váp nhỏ trước đó;
  • Hai là tăng cường đối thoại một cách quân bình và tôn trọng nhằm giúp các em tăng khả năng ra quyết định có tham khảo ý kiến của người lớn. Cha mẹ học cách từ bỏ hoặc giữ lại những lo lắng để con tăng sự tự tin vào chính bản thân.

2. Đưa mọi thứ vào đúng chỗ.

Có lẽ đúng chỗ nhất là chú tâm đến việc xây dựng và duy trì khả năng độc đáo và độc nhất của bản thân, hay nói cách khác là chú tâm đến lòng tự tôn (self-esteem) của chính các em. Việc này đòi hỏi các em phải có khả năng không bị “mê hoặc” bởi những nhãn dán hay “trend” để chứng tỏ mình không bị bỏ lại với số đông. Để ý rằng có rất nhiều nhãn dán hay trend thu hút trẻ ở giai đoạn này, như giảm cân một cách cực đoan, quá chú tâm đến áo quần hay những thứ thời trang thời thượng, hàng hiệu,…

Nhận biết rằng con người khỏe mạnh là từ nội tâm của mình, nhận biết bản thân là ai và đang hướng tới điều gì quan trọng hơn việc đắp lên mình những hào nhoáng bên ngoài. Tất cả điều này theo tôi thấy sẽ thuận lợi hơn nếu cha mẹ ngay từ nhỏ thể hiện những kỳ vọng thực tế và khuyến khích con em mình sống vì bản thân các em. Hãy bận tâm đến những thứ vững chắc từ bên trong thay vì để tâm đến những thứ bên ngoài dễ thay đổi và thiếu vững chắc.

3. Nhìn vào bên trong và tin vào chính mình.

Nhìn vào và nhận diện những cảm xúc của bản thân, chấp nhận bản sắc (identity) của chính mình, và chăm sóc cho bản thân mình.

Vậy là có ba điều quan trọng trong phần này:

  • một là trẻ học được và hiểu được những phản ứng cảm xúc của bản thân và học cách thể hiện những cảm xúc đó ra một cách khỏe mạnh và chân thật;
  • hai là phát hiện ra bản sắc của mình và tự hào về nó, thay vì học theo một người khác mà bản thân thấy không phù hợp với chính mình; và
  • ba là thực hành những hoạt động chăm sóc cho bản thân, như chú tâm đến sự cân bằng trong các hoạt động học tập, ăn uống, ngủ nghỉ, vận động, và vui chơi với bạn bè,…

Cha mẹ hay người lớn nhân chuyện này mà hỗ trợ trẻ đạt được con người của chính con chứ không phải bắt ép con theo ý mình. Nhớ rằng theo ý của cha mẹ rất có thể là một ước muốn không phù hợp với con người của chính con cái. Hãy để trẻ có cơ hội là chính bản thân của con.

Bên cạnh sự tác động và dạy dỗ của cha mẹ hay người lớn khác, các thanh thiếu niên có thể dành sự lưu tâm để chính mình quyết định cuộc đời của mình bằng cách nhận ra những quy tắc như vừa được nêu của các tác giả nghiên cứu này để biết rằng luôn có cơ hội cho chính mình. Trong vai trò là cha mẹ hay những người lớn khác, chúng ta có thể dùng những dữ liệu này để làm nền tảng cho sự đối đãi và đối thoại với con cái của mình.

Ngô Minh Uy